Kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất Kim ngạch nhập khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất

Kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất

Kim ngạch nhập khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất

Trang 1 / 3

Một ngày cuối năm Tân Mão, trên chuyến bay từ Huế ra Hà Nội, tôi tình cờ đọc được bài báo trên tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn, cung cấp các thông tin về tình hình xuất nhập khẩu 11 tháng năm 2011. Trong đó có đưa ra 2 biểu đồ kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu cho 10 nhóm hàng lớn nhất. Tôi giật mình khi so sánh thấy ngành hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là dệt may đạt 12,8 tỉ USD thì nguyên phụ liệu dệt may đứng thứ hai ở biểu đồ nhập khẩu với 11,3 tỉ USD (sự so sánh này chỉ mang tính tương đối). Điện thoại cho anh bạn bên Tập đoàn Dệt May Việt Nam thì được xác nhận chủ yếu xuất khẩu dệt may là may gia công và hầu như 100% nguyên liệu, phụ liệu đều được nhập từ nước ngoài.

Như vậy, với ngành hàng xuất khẩu lớn nhất, đất nước thu được những gì? Câu trả lời đơn giản chỉ là giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn lao động đang nai lưng làm việc tại các nhà máy gia công (chủ yếu là của nước ngoài). Nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp chẳng đáng là bao, khi chênh lệch giữa đầu ra và đầu vào không đáng kể. Đó là chưa kể đến tình trạng chuyển giá của một số doanh nghiệp nước ngoài nhằm trốn thuế.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn ra ngày 24.11.2011 cũng đưa tin: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) thống kê, Việt Nam hiện có 1.872 cụm công nghiệp được quy hoạch trên diện tích 76.000 ha. Trong đó, 918 cụm đã được thành lập với diện tích 40.600 ha. Tuy nhiên, diện tích đang đưa vào sử dụng cho thuê chỉ 7.500 ha. Tức chiếm chưa đầy 19% diện tích đã đầu tư và 10% diện tích quy hoạch.

Như vậy, liệu chúng ta có nên tiếp tục chuyển đổi hàng trăm ngàn hecta đất nông nghiệp để xây các khu công nghiệp, chứng kiến hàng triệu nông dân mất ruộng, lên thành phố làm thuê? Cái giá đó có đáng để đổi lấy kết quả thu được như trên không? Hay là chúng ta đang rơi vào bẫy năng suất kém hay bẫy thu nhập trung bình mà Giáo sư Kenichi Ohno, Đại học Nghiên cứu Chính sách (Nhật) đã cảnh báo: “Không thể tiếp tục dựa vào lắp ráp giản đơn với lao động không có kỹ năng. Các ngành công nghiệp sẽ rút khỏi Việt Nam khi mức lương tăng lên và hội nhập ngày càng sâu rộng. Không tạo ra được các giá trị trong nước, Việt Nam chắc chắn sẽ gặp phải bẫy thu nhập trung bình”.

Đâu là lợi thế cạnh tranh quốc gia?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có bài viết về đường hướng phát triển của đất nước nhân đầu năm 2012. Một loạt chỉ đạo phương hướng phát triển vĩ mô mới được Thủ tướng nêu ra, trong đó tôi đặc biệt quan tâm đến mục tái cơ cấu các ngành sản xuất và dịch vụ. Ngành công nghiệp được Thủ tướng đặt lên hàng đầu, sau đó là dịch vụ và cuối cùng là nông nghiệp.

Vậy trong 3 ngành này, đâu là lợi thế cạnh tranh quốc gia của Việt Nam?

Đối với ngành công nghiệp, từ khi thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam đã đưa ra chủ trương công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Sau gần 40 năm ngành công nghiệp vẫn tụt hậu xa so với thế giới. Thủ tướng đã nhìn đúng vào vấn đề là cần phải “chuyển từ một ngành công nghiệp gia công lắp ráp có hàm lượng khoa học công nghệ và giá trị gia tăng thấp sang phát triển các ngành chế tạo và chế biến có giá trị gia tăng cao”. Nhưng liệu đó có phải là hướng đi mũi nhọn để phát triển đất nước hay không?

Muốn phát triển công nghiệp chế tạo có giá trị công nghệ cao, một quốc gia cần 2 yếu tố cơ bản: nguồn nhân lực có chất lượng và cơ sở hạ tầng tốt. Thế nhưng, ở cả 2 yếu tố này chúng ta đều thiếu và yếu. Christopher Twomey, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Mỹ (AmCham), từng phát biểu: “Cần thúc đẩy và nâng cao trình độ nhân lực. Nếu nhân lực vẫn kém, không được đào tạo và thiếu trình độ, Việt Nam có thể sẽ mắc bẫy năng suất kém, làm hạn chế tính cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường toàn cầu. Bên cạnh đó, Việt Nam tiếp tục đối mặt với sự bất hợp lý và chậm trễ trong việc phát triển cơ sở hạ tầng then chốt, đặc biệt là các tuyến cầu đường liên tỉnh”.

So với các nước lân cận cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam như Trung Quốc, Thái Lan và Singapore, cơ sở hạ tầng của chúng ta tụt hậu từ 25-40 năm. Chất lượng nhân lực cũng thấp hơn hẳn. Vậy chúng ta có khả năng cạnh tranh nền công nghiệp công nghệ cao với họ trong trung hạn, thậm chí dài hạn hay không? Trong một thế giới phẳng, toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng đồng thời với việc các hàng rào thuế quan lần lượt bị xóa bỏ thì việc hy vọng xây dựng những thương hiệu Việt cho ôtô, điện tử, hay thép để cạnh tranh với các nước lân cận là thiếu khả thi.

Trang 1 2 3 Trang kế tiếp