Từ năm 2017 trở đi người dân ở các thành phố lớn có thể sẽ phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt (tính trong giá nước sạch sử dụng hàng ngày) cao hơn mức nộp lâu nay, theo Nghị định 154/2016/NĐ-CP mới ban hành về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

De ngo kha nang tang phi voi nuoc thai sinh hoat - Anh 1

Có khả năng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt ở các địa phương như Hà Nội, TPHCM... sẽ cao hơn mức 10% trên giá bán của 1 mét khối nước sạch chưa gồm thuế giá trị gia tăng, theo Nghị định 154/2016. Ảnh: KINH LUÂN

Sự khác biệt đáng chú ý giữa Nghị định 154/2016 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải có hiệu lực từ ngày 1-1-2017 (thay thế Nghị định 25/2013/NĐ-CP) chính là mức phí thu đối với nước thải sinh hoạt và mức phí với nước thải công nghiệp và đặc biệt từ nay, số tiền thu được hàng năm sẽ công khai cho người dân, doanh nghiệp được biết.

Theo Nghị định 25/2013, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên giá bán 1 mét khối nước sạch nhưng tối đa không quá 10% giá bán nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.

Còn theo Nghị định 154/2016, mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt vẫn là 10% trên giá bán của 1 mét khối nước sạch chưa gồm thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết áp dụng mức thu cao hơn thì hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định mức cụ thể phù hợp với tình hình thực tế địa phương.

Như vậy, có khả năng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt ở các địa phương sẽ cao hơn mức 10% nói trên nếu chính quyền các địa phương xét thấy cần tăng và được hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố thông qua.

Trao đổi với TBKTSG, ông Lê Hữu Quang, Trưởng phòng Kinh doanh thuộc Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn (Sawaco), cho biết hiện thành phố vẫn áp dụng mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt là 10% trên giá nước sạch. Ông Quang nhận định với Nghị định 154, có thể sẽ có mức thu mới cho những lần điều chỉnh các năm sau, tuy nhiên điều chỉnh ở mức nào sẽ thông qua hội đồng nhân dân thành phố quyết định. Sawaco chỉ là đơn vị thu hộ và nộp vào ngân sách để thành phố chi cho các hoạt động bảo vệ môi trường. Mỗi năm riêng số tiền thu được từ phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt tại TPHCM cũng lên đến vài trăm tỉ đồng.

Nước thải sinh hoạt (theo Nghị định 154) là nước thải từ các hộ gia đình; cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân (trừ các cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến thuộc các đơn vị vũ trang nhân dân); trụ sở điều hành, chi nhánh, văn phòng của các tổ chức, cá nhân không gắn liền với địa điểm sản xuất, chế biến; cơ sở rửa ô tô, rửa xe máy, sửa chữa ô tô, sửa chữa xe máy; bệnh viện; phòng khám chữa bệnh; nhà hàng, khách sạn; cơ sở đào tạo, nghiên cứu; cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác.

Trong khi đó, đối với nước thải công nghiệp thì theo quy định mới áp dụng từ đầu năm tới, nhiều khả năng doanh nghiệp sẽ đóng phí thấp hơn lâu nay bởi công thức tính phí mới được tính bằng: F = f + C (F: số phí phải nộp; f là mức phí cố định 1,5 triệu đồng/năm; C là phí biến đổi tính theo tổng lượng thải, thông số ô nhiễm được quy định cụ thể). Còn cách tính phí đối với nước thải công nghiệp lâu nay cũng theo công thức F = f + C nhưng hệ số f được chốt mức cố định tối đa là 2,5 triệu đồng/năm và hệ số phí biến đổi C cũng có mức tối đa cao hơn so với nghị định mới.

Về đối tượng nộp, nếu lâu nay quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thực hiện theo Nghị định 25/2013 chỉ đề cập “nước thải công nghiệp là nước từ các cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản xả thải ra môi trường. Còn nước thải sinh hoạt là nước từ các hộ gia đình, tổ chức xả thải ra môi trường” thì đối tượng xả nước thải công nghiệp trong quá trình sản xuất phải chịu phí bảo vệ môi trường tại Nghị định 154/2016 được quy định chi tiết ngành nghề sản xuất hơn.

Cụ thể, định nghĩa nước thải công nghiệp được cho là nước thải từ các cơ sở sản xuất nhóm ngành nông sản, lâm sản, thủy sản; thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát, thuốc lá; cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc gia cầm tập trung; cơ sở nuôi trồng thủy sản; sản xuất thủ công trong các làng nghề; thuộc da, tái chế da; khai thác, chế biến khoáng sản; dệt, nhuộm, may mặc; sản xuất giất, bột giấy, nhựa, cao su; sản xuất phân bón, hóa chất, dược phẩm, thuốc bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng...

Không còn quy định chung chung như lâu nay, Nghị định 154 cũng nói rõ: tổng số tiền thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt sẽ được để lại 10% cho đơn vị cung cấp nước sạch, 25% cho ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn trang trải cho hoạt động thu phí, phần còn lại được nộp vào ngân sách địa phương cho công tác bảo vệ môi trường; bổ sung vốn cho hoạt động của quỹ bảo vệ môi trường địa phương; tổ chức các giải pháp, phương án công nghệ, kỹ thuật xử lý nước thải.

Tương tự, với số tiền thu được từ phí bảo vệ môi trường nước thải công nghiệp sẽ được trích lại 25% cho đơn vị thu để trang trải các hoạt động thu phí, 75% còn lại nộp vào ngân sách địa phương cho công tác bảo vệ môi trường. Hàng năm cơ quan thu phí có trách nhiệm công khai số phí mà người dân, doanh nghiệp đã nộp của năm trước trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân và doanh nghiệp được biết.

Sẽ tính đến phương án thu phí chứ không “cáng đáng” nữa

Theo một cán bộ quản lý môi trường thuộc Ban Quản lý các khu chế xuất - khu công nghiệp TPHCM (Hepza), thời gian qua hầu hết doanh nghiệp đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp thực hiện rất tốt việc đóng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp bởi khoản phí này không nhiều.

Việc đóng phí này dựa trên lưu lượng thải và thông số ô nhiễm nước thải từng khu công nghiệp được Chi cục Bảo vệ môi trường thành phố đánh giá và thông báo mức phí cần thu.

Theo ông Trần Anh Tích Lan, Giám đốc môi trường Công ty cổ phần Khu công nghiệp Hiệp Phước, huyện Nhà Bè, TPHCM, thời gian qua do khu công nghiệp có chính sách thu hút dự án đầu tư nên công ty đã bỏ chi phí trả luôn phần phí bảo vệ môi trường nước thải công nghiệp cho các nhà máy hoạt động trong khu với số tiền khoảng 100 triệu đồng mỗi năm và số tiền này không phải là một áp lực quá lớn với một doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp.

Tuy nhiên, thời gian tới khi số lượng dự án vào khu công nghiệp ngày càng tăng, lượng nước thải ngày càng nhiều hơn thì phần phí này sẽ tăng theo và khi đó, công ty có thể sẽ tính đến phương án thu phí bảo vệ môi trường nước thải công nghiệp đối với các doanh nghiệp hoạt động trong khu chứ không còn “cáng đáng” khoản phí này như lâu nay.

Trong khi đó, đại diện Nhà máy Ajinomoto Việt Nam tại Biên Hòa cho rằng nghị định mới ban hành, dù có tăng hay giảm mức phí, cũng không tác động quá lớn tới hoạt động của doanh nghiệp bởi phần phí bảo vệ môi trường nước thải không quá lớn so với tổng chi phí của doanh nghiệp.