Bộ GTVT đang trình Quốc hội thông qua Dự án xây dựng đường cao tốc Bắc - Nam nhằm phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng-an ninh trong tương lai.

Dau tu cao toc Bac - Nam la can thiet - Anh 1

Cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Trung Lương

Phát triển kinh tế đảm bảo quốc phòng - an ninh

Theo Quy hoạch phát triển ngành GTVT được Thủ tướng phê duyệt thì đến năm 2020, chúng ta có khoảng 2.000 - 2.500km đường cao tốc, do đó để đáp ứng nhu cầu phát triển hạ tầng giao thông nhằm phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo quốc phòng - an ninh thì việc đầu tư tuyến cao tốc Bắc - Nam là cần thiết.

Theo Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Nhật dựa vào quy hoạch, Bộ GTVT đã chỉ đạo quyết liệt trong những năm vừa qua và đã hoàn thành được 746km đường cao tốc trên tổng số dự kiến 6.114km đường cao tốc. Con số này so với quy hoạch và nhu cầu thực tế còn rất hạn chế. Vì vậy, để bảo đảm cơ sở hạ tầng giao thông đi trước một bước theo Nghị quyết 13, giải quyết được 3 điểm tắc nghẽn để Việt Nam phát triển mà Ngân hàng Thế giới đã khuyến cáo là: Cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và thể chế chính sách, Bộ GTVT đã nghiên cứu và tiếp tục phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nói chung, trong đó có 5 lĩnh vực chứ không chỉ riêng đường bộ.

Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, về đường biển, trong quy hoạch năm 2015, các cảng biển có thể đạt được 500 ngàn tấn thông qua. Vận tải đường biển cơ bản đảm bảo nhu cầu vận chuyển Bắc - Nam, cũng như vận tải quốc tế. Về hệ thống đường thủy nội địa, đây là mảng tập trung nhiều ở khu vực Tây Nam bộ với 60%, còn lại là nằm ở một số tỉnh ở khu vực Đồng bằng sông Hồng. Còn vận tải Bắc - Nam, đường thủy nội địa cũng rất khó khăn, phụ thuộc chủ yếu vào tuyến ven biển mới hoạt động cách đây 2 năm. Đường ven biển chỉ chạy được theo mùa và tùy theo thời tiết. Nếu thời tiết xấu, tàu nhỏ không thể đi được.

Về hàng không, hiện tốc độ phát triển là 14% - 16%/năm và được ICAO đánh giá là 1 trong 7 nước có tốc độ phát triển hàng không lớn nhất thế giới trong năm 2015 và đứng thứ 3 châu Á về phát triển hàng không. Vận tải hành khách qua hàng không năm 2015 đạt gần 70 triệu khách, tốc độ tăng trưởng rất lớn. Đặc biệt, khi chúng ta nâng cấp sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất, vận chuyển hàng không đối với hàng hóa nhanh, nhưng tải trọng thấp nên không đáp ứng được nhiều cho vận tải hàng hóa Bắc - Nam.

Về đường sắt, chủ yếu vận chuyển Bắc - Nam đối với hàng siêu trường, siêu trọng. Tuy nhiên, hệ thống đường sắt hiện nay có năng lực vận tải còn yếu, hạn chế. Dự án trình Quốc hội về đường sắt cao tốc là 55 tỷ USD, còn nếu làm tốc độ cao (160km/h) thì cũng là 35 - 40 tỷ USD. Nếu chọn đường sắt để đầu tư trong giai đoạn này sẽ rất khó khăn, vì sẽ vượt trần nợ công mà Quốc hội cho phép là 60% GDP. Chính vì thế, Chính phủ giao Bộ GTVT nghiên cứu từ 2015 đến năm 2020, làm thủ tục, trình dự án và hoàn thành thủ tục đầu tư đường sắt cao tốc sau năm 2020 do vốn quá lớn và phải đầu tư toàn tuyến mới có hiệu quả.

Vì vậy, để đáp ứng được vận tải Bắc - Nam, phát triển các khu kinh tế trọng điểm ven biển và kết nối các loại hình vận tải, chúng ta cần tập trung đầu tư hệ thống cao tốc đường bộ Bắc - Nam. Trong đó, tập trung trước vào tuyến phía Đông, gồm hơn 1.300 km. Trên đoạn này chúng ta đã đầu tư đoạn Hà Nội - Ninh Bình, từ La Sơn - Túy Loan, Quảng Nam - Quảng Ngãi và đạt khoảng 470km, còn lại thông toàn tuyến hơn 1.300km. Vì vậy, Bộ GTVT đề xuất xây dựng cao tốc phía Đông để bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo giao thương và ATGT.

Huy động từ nhiều nguồn vốn

Hiện nay, Bộ GTVT đã xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 - 2020 với tổng nhu cầu vốn đầu tư khoảng 952.731 tỷ đồng. Tuy nhiên, khả năng cân đối vốn được 116.952 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước và khoảng 70.000 tỷ đồng từ nguồn TPCP dự kiến phát hành giai đoạn 2017 - 2020, đáp ứng khoảng 19,6% so với nhu cầu. Do đó, nhiều mục tiêu của ngành GTVT không thực hiện được và không thể cân đối nguồn vốn Nhà nước tham gia đầu tư tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông đoạn Hà Nội - TP HCM vào phần vốn ngân sách đã dự kiến bố trí cho Bộ GTVT.

Theo tính toán, các dự án trên tuyến cao tốc Bắc - Nam có kinh phí đầu tư rất lớn, nếu chỉ thu phí các phương tiện sẽ không thể hoàn vốn đầu tư, để dự án khả thi về mặt tài chính, bắt buộc phải có phần hỗ trợ của Nhà nước. Đây là điều kiện tiên quyết để đảm bảo khả năng thu hút được các nhà đầu tư tham gia đầu tư dự án. Vì vậy, Bộ GTVT đã kiến nghị Chính phủ bổ sung vốn ngân sách nhà nước trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 - 2020 bao gồm: Trái phiếu Chính phủ, vốn vay ưu đãi nước ngoài, ngân sách nhà nước tham gia như là phần vốn góp để đầu tư các tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông theo hai phương án.

Thứ nhất, sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ và vốn vay ưu đãi nước ngoài là phần vốn Nhà nước tham gia góp vốn đầu tư, trong đó, vốn trái phiếu Chính phủ hỗ trợ đầu tư đoạn từ Cao Bồ (Nam Định) đến Túy Loan (Đà Nẵng), tổng kinh phí khoảng 47.405 tỷ đồng và vốn vay ưu đãi nước ngoài tham gia hỗ trợ đầu tư đoạn từ Quảng Ngãi đến Dầu Giây, tổng kinh phí dự kiến 46.139 tỷ đồng. Qua nghiên cứu, phương án này huy động một phần nguồn vốn ưu đãi nước ngoài để tham gia đầu tư nên cơ bản sẽ có lãi suất huy động thấp hơn, thời gian cho vay dài hơn. Tuy nhiên, do trình tự, thủ tục để có thể huy động được nguồn vốn nước ngoài ưu đãi sẽ mất nhiều thời gian và thường kèm theo một số điều kiện vay khác về tư vấn, chỉ định nhà thầu, các yêu cầu về tác động môi trường, giải phóng mặt bằng phức tạp nên khó có thể đáp ứng được yêu cầu về tiến độ triển khai dự án.

Thứ hai, Bộ GTVT kiến nghị Chính phủ sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ trong kế hoạch đầu tư trung hạn 2016-2020 để tham gia đầu tư, kinh phí khoảng 93.544 tỷ đồng. Phương án này chủ yếu sử dụng nguồn lực trong nước, thời gian huy động ngắn, lãi suất cao hơn, nhưng thực hiện theo phương án này mới có thể đảm bảo thời gian bố trí nguồn vốn để thực hiện đầu tư dự án. Sau khi phân tích và đánh giá ưu nhược điểm của từng phương án cũng như tiến độ đầu tư tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Bộ GTVT đã kiến nghị Chính phủ thực hiện sử dụng nguồn vốn theo phương án 2.

Căn cứ tiến độ xây dựng dự án dự kiến thực hiện từ năm 2017 đến 2022, Bộ GTVT dự kiến năm 2017 cần 8.458 tỷ đồng từ nguồn vốn Nhà nước, tiếp theo các năm 2018 cần 16.559 tỷ đồng, năm 2019 cần 26.998 tỷ đồng, năm 2020 cần 22.686 tỷ đồng, năm 2021 cần 14.067 tỷ đồng và năm 2022 cần 4.784 tỷ đồng. Như vậy, tổng nhu cầu vốn để đầu tư tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông đoạn Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh giai đoạn đến năm 2020 cần khoảng 74.692 tỷ đồng, giai đoạn 2021 - 2022 cần khoảng 18.851 tỷ đồng.

Với tổng số vốn Nhà nước tham gia đầu tư khoảng 93.534 tỷ đồng, Bộ GTVT đã tính toán và đưa ra phương án dự kiến về cơ cấu hỗ trợ của nguồn vốn Nhà nước, trong đó, chi phí giải phóng mặt bằng khoảng 24.772 tỷ đồng; chi phí tư vấn, quản lý dự án và chi phí khác khoảng 18.214 tỷ đồng; chi phí hỗ trợ xây lắp khoảng 34.692 tỷ đồng và chi phí dự phòng khoảng 15.866 tỷ đồng.

Do vậy, nếu huy động nhà đầu tư nước ngoài và vốn vay từ tổ chức tín dụng nước ngoài cần phải chấp thuận một số cơ chế bảo lãnh, còn nếu huy động nguồn vốn vay trong nước cần phải tăng giới hạn tổng mức dư nợ cấp tín dụng quy định tại Khoản 1 Điều 128 Luật Các tổ chức tín dụng. Việc cấp tín dụng vượt giới hạn này do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở xem xét đây là dự án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

PV