Theo quy định của pháp luật, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Hỏi: Vợ chồng tôi lấy nhau được 08 năm thì bố đẻ cho tôi một mảnh đất, việc cho tặng chỉ có giấy viết tay và chữ ký của hai bố con, nội dung nêu rõ mảnh đất này cho riêng tôi (chưa sang tên trong sổ đỏ). Tuy nhiên, do cuộc sống vợ chồng nhiều mâu thuẫn nên hai vợ chồng sống riêng. Trong thời gian gần đây, anh ấy đòi bán mảnh đất trên, chia đôi để lấy tiền làm ăn. Đề nghị Luật sư tư vấn, chồng tôi có được quyền đòi bán mảnh đất này không?

Hồng Nhung (Bắc Giang)

Dat do bo cho rieng, chong co quyen doi ban khong? - Anh 1

Trả lời:

Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định về việc tặng cho bất động sản như sau: “1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu. 2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản".

Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. 2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. 3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung".

Theo quy định của pháp luật, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Trường hợp của chị, chị được bố cho mảnh đất, có giấy viết tay tuy nhiên theo quy định của BLDS phải được lập thành văn bản và có công chứng, chứng thực. Do đó, giao dịch tặng cho tài sản giữa bố chị và chị sẽ bị vô hiệu. Hơn nữa, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên bố chị nên về mặt nguyên tắc quyền sử dụng đất vẫn thuộc về bố chị.

Trong trường hợp này chồng chị không có quyền đòi bán hoặc chia. Nếu bố chị vẫn muốn cho riêng chị mảnh đất thì hai bố con cần lập lại văn bản về việc tặng cho và phải được công chứng, chứng thực theo đúng quy định của pháp luật.

Trong trường hợp này, dù chị thực hiện chuyển quyền sử dụng đất từ tên bố chị sang tên chị thì đây cũng không được coi là tài sản chung vợ chồng. Vì thế chồng chị không có quyền đòi chia hoặc bán mảnh đất (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác).

Luật sư Nguyễn Thị Quyên

Công ty Luật TNHH Everest (Tổng đài tư vấn 1900 6218)