Sải những bước dài, thành kính vào Đền nhưng hết thảy chúng tôi đều ngơ ngác bởi khung cảnh quá ư xơ xác, tiêu điều. Đền chính từ xa ngó lọt thỏm trong ba bức tường phá nham nhở của một cái nhà xây chắn ngang ngôi đền ghi bên hồi 1979.

Danh thang mot mien que - Anh 1

Ngậm ngùi nơi quê nhà Bà Triệu

Định Công, lá cờ đầu ngành nông nghiêp, điển hình tiên tiến của cả nước trong những năm bao cấp. Định Công tựa vào dãy Quan Yên nằm ngay kề Ngã Ba Bông nơi hợp lưu của dòng sông Chu và sông Mã. Nơi con gà gáy ba huyện nghe. Ba huyện ấy là Yên Định, Vĩnh Lộc Hoằng Hóa. Từ nơi đây đường thủy lẫn bộ đều tiện để nối với trung tâm kinh tế Tư Phố nổi tiếng của đất Cửu Chân cổ xưa.

Định Công cũng chính là nơi người anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh tức Bà Triệu, cất tiếng khóc chào đời!

Thiên hạ có lẽ chỉ chú mục vào hai địa danh là Đền Bà Triệu ở Núi Tùng, thuộc xã Triệu Lộc của huyện Hậu Lộc nơi Bà tuẫn tiết trong cuộc huyết chiến với tướng nhà Ngô Lục Dận. Một địa danh nữa là nơi bà cùng anh trai Triệu Quốc Đạt dấy binh khởi nghĩa ở Núi Nưa Nông Công còn gọi là Na Sơn. Na Sơn nắng quện mây trời/ Tấm gương Bà Triệu còn ngời sử xanh. Cả hai địa danh này đã được Nhà nước công nhận di tích lịch sử là phải lắm!

Danh thang mot mien que - Anh 2

Đền Bà Triệu ở Hậu Lộc (Thanh Hóa), nơi Bà dấy binh và tuẫn tiết đã được
Nhà nước chứng cho di tích văn hóa. Mong chính tại quê hương Bà Triệu
sớm xây dựng lại ngôi Đền thiêng.

Nhưng còn Định Công Quan Yên?

Còn nhớ năm cuối bảy mươi đầu tám mươi của thế kỷ trước, anh em báo chí chúng tôi mỗi lần được mời về Định Công thường hướng ống kính lẫn chú mục vào đám lợn người ta bắt hoặc mượn tạm của dân nhốt chung vào khu trại chăn nuôi (vì lạ hơi nên chúng thường cắn nhau bươu đầu sứt tai) để các báo nhất loạt ca bài ca điển hình chăn nuôi tiên tiến! Rồi lại chú mục vào mỗi góc nhà mỗi bàn nước những chiếc phích Rạng Đông, phích Tàu đỏ chói sáng loáng mà đội quân của Sở Thương nghiệp mang lên cho các hộ mượn để khách tham quan thấy được đời sống của dân ở điển hình tiên tiến Định Công ngày một đổi mới!

Rồi chúng tôi nhất loạt cùng ca bài ca làng ta di động nên có đất mình cày... Không phải là ca từ trong một ca khúc nổi tiếng thời ấy nữa mà đã thành khẩu hiệu thành phong trào thành hành động. Mấy làng trù mật của Định Công khi ấy đã phải tháo dỡ để di chuyển vào trong núi nói là để dành đất canh tác! Bao nhiêu việc lớn thay trời đổi đất sắp xếp lại giang sơn...

Khi ấy chúng tôi đâu biết một di tích đã tồn tại không biết là mấy trăm năm trên đất Định Công trên dãy núi Quan Yên đã bị đám thanh niên xung kích có trách nhiệm bài trừ mê tín dị đoan hăng hái phá tan tành sạch bách chỉ có vài ngày.

Đó là ngôi Đền thờ Bà Triệu linh thiêng trên sườn núi Quan Yên trông xuống dòng sông Mã mênh mang!

... Cũng có mấy bận đảo qua Định Công nhưng vội vàng tốc táo. Mãi vừa rồi tôi mới có dịp thư thư chầm chậm được. Thảng thốt nghĩ đến sự mầu nhiệm của thời gian, của sự quên lãng. Toàn bộ dãy Quan Yên đã xanh liền lại những mảng lở loét của công việc khai sơn lập ấp hơn ba mươi năm trước. Xóm Phú Sơn tên mới của mấy làng phải di dời vào núi có hơi người lẫn sự quần cư chăm bẵm nay đã ngằn ngặt một sắc xanh trù phú. Ngậm ngùi biết thêm ông Đắc đã là người thiên cổ. Ông Đắc Bí thư Đảng ủy xã Định Công nổi tiếng ngày ấy, ông vốn nổi tiếng sát dân gần dân. Gương mặt khắc khổ của người quen với nắng gió đồng bãi. Và bao lần gương mặt ấy đã sáng rỡ trong ánh đèn ghi hình khi những vị lãnh đạo cấp trên về Định Công vỗ vai đồng chí là người đưa mọi người lên chủ nghĩa xã hội...

Năm 1990, dong chiếc xe đạp qua đò Định Công để sang Vĩnh Lộc, tôi bất ngờ gặp lại ông Đắc chính là người chở đò. Ông cười hề hề khi cùng ngậm ngùi lại chút chuyện cũ. Đâm nhớ lâu cái cười pha chút thở dài của người chèo đò chưa đưa được mọi người lên CNXH thì chừ hẵng đưa mọi người qua cái sông này đã...

Năm sau tôi qua thì ông Đắc đã trúng thầu cái cầu phao qua sông không phải chở đò nữa. Cổng nhà ông có hai chữ sinh khí bằng chữ Hán đắp. Có lần ông bị chi bộ kiểm thảo vì khuyết điểm mê tín dị đoan. Chả là ngày sóc ngày vọng rằm mồng một quen lệ từ thuở ông bà, vợ ông kín đáo thắp hương. Đồ cúng chỉ là nải chuối hoa quả lấy ở vườn nhà. Thắp nén hương cho ấm nhà ấm cửa. Nhắc lại chuyện tháo dỡ Đền Bà Triệu ở núi Quan Yên, tôi thấy mắt ông như có sương khói. Ông chả có quyền hành gì khi đó. Lệnh trên thì phải làm thôi...

Lệnh trên? Lệnh nào vậy? Thành văn hay bất thành văn? Tôi chợt nhớ trong tập công báo xuất bản mới đây, người ta đã tỷ mẩn biên kê lại hệ thống luật pháp nhà nước về việc trân trọng di sản văn hóa và lịch sử.

Thời điểm vận nước như trứng để đầu đẳng lo đối phó với những thù trong giặc ngoài thế mà ngay ngày 23/11/1945, Hồ Chủ Tịch lo xa đã tiên liệu cho những nông nổi này khác của một cuộc cách mạng. Người đã ký Sắc lệnh số 65 về việc bảo tồn cổ tích.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Xét rằng việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam.

... Điều 4. Cấm phá hủy đình, chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện thành quách, cũng như lăng mộ chưa được bảo tồn. Cấm phá hủy những bia ký, đồ vật, chiếu sắc văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử mà được bảo tồn vv...

Từ bấy cho đến nay, chưa có một một Sắc Lệnh, một Luật nào phủ định lại Sắc lệnh ấy mà chỉ có những Nghị định những Luật triển khai sinh sắc thêm mà thôi!

Vậy mà sự nông nổi nôn nóng lẫn bặm trợn ấy chỉ ít năm sau lại tái phát!

Khéo khen cho con mắt tinh đời của tiền nhân đã chọn được mạch núi cụt của dãy Quan Yên chồm đến sát sông Mã này thì dừng để đặt Đền Bà. Thời đã lăng lắc ấy, khi mới dấy binh, nghĩa quân của Bà đã cho đào trong hẻm núi này một cái hầm. Đêm đêm ánh lửa le lói rồi từ thẳm sâu lòng đất có vọng lầm rầm xa, gần.

Có Bà Triệu tướng/ Vâng lệnh trời ta/ Trị voi một ngà/ Dựng cờ mở nước/ Lệnh truyền sau trước/ Theo gót Bà Vương.

Nhờ đó mà cả vùng đồn ầm lên là Thần núi Quan Yên báo hiệu cho dân chúng hay rằng Bà Triệu là thiên tướng giáng trần giúp dân cứu nước. Vậy nên hàng ngũ nghĩa quân thêm lớn, thanh thế thêm to.

Ngôi đền thiêng này được dựng tự khi nào? Trước khi tới đây, đã tỷ mẩn hỏi các nhà chức việc cùng vài cơ quan quản lý văn hóa ở tỉnh nhưng có cảm giác ngôi đền từ lâu đã biến mất khỏi hệ thống sổ sách địa bạ. Lại tỷ mẩn hỏi vài cụ cao niên lẫn thanh niên của Định Công. Người trẻ thì nhìn chúng tôi vẻ thương hại rằng muốn đến đền Bà Triệu thì phải qua sông Mã về Hậu Lộc mà hỏi (ý họ chỉ đền Bà Triệu ở núi Tùng nơi Bà tuẫn tiết). Còn người già thì có nhớ mang máng địa điểm Đền trên Quan Yên nhưng lâu rồi không có điều kiện đến và tuyệt nhiên không biết được Đền có tự bao giờ! Chỉ biết, từ thuở ông bà cha mẹ họ rồi cụ kỵ cử họ nữa thì ngôi Đền Bà tại quê nhà đã có rồi.

Bây giờ hình bóng ngôi đền thiêng vẫn đang hiện diện đây qua một gian thờ tạm bợ. Nhưng gian thờ tre lá ấy lại bị quây kín mít bằng những thanh tre luồng. Chỉ có đàn bò thẩn thơ gặm cỏ quanh Đền.

Tôi lộn xuống mé dốc hỏi một ngôi nhà sát đường. Nhà ông Trịnh Văn Cộng. Ông cho biết, từ ngày đền bị phá, trên cái nền trơ thổ địa ấy, mới 8 năm nay thôi, mấy cụ trong làng đã bảo con cháu dựng cho các cụ tạm một gian thờ để cúng tế không thì tủi vong linh Bà lắm lắm. Dịp tế lễ gì đó thì các cụ mới dỡ những thanh tre ấy ra. Nhưng cũng lạ, khách thập phương không hiểu sao lại biết ngôi đền tạm bợ nơi cuối đất cùng non này và đã tìm đến đây thắp hương.

Có lẽ muốn tìm lại vóc dáng ngôi đền thiêng nơi Bà phát tích thì phải ngó kỹ thêm hai cây đa cổ thụ mé trước Đền. Những u mấu và những đoạn hõm sâu vào gốc tố cáo thứ thụ mộc này tuổi tác cũng đã vài trăm niên. Tôi để ý hàng chục bát hương đặt trong hõm cây hốc cây chân hương vun đầy. Hương nào vậy? Của dân làng? Của khách thập phương? Trông nể và kính thật đấy nhưng nói dại mồm chỉ vài bát hương hóa từ lòng gốc đa này thì nguy cơ hỏa hoạn rất cao. Hai gốc thụ mộc này mà hóa mà bị thiêu trụi coi như mất chứng tích một thuở một thời? Cây cũng là một thứ di tích. Lại thảng thốt ngó thêm cụ rùa bằng đá tạc từ đời nảo đời nào dáng rất khéo trên lưng lại cũng chi chít chân hương. Đằng sau mé túp lều thờ, hiển hiện một cái nền chứng tích của một thời Đền bị phá chả phải là xa! Nền Đền ăn tiếp với mạch đá nổi như vân mây càng làm tăng thêm vẻ uẩn súc của đền.

Chưa dám nói là khuất dạng nhưng đã lùi tít xa một thời nông nổi. Nơi Bà Triệu dấy binh và tuẫn tiết đã được Nhà nước chứng cho di tích văn hóa thì hà cớ gì nơi Bà Triệu phát tích, ngay chính trên quê hương Bà lại không có mảnh bằng công nhận di tích? Dường như đã quá hội đủ những thiên thời địa lợi nhân hòa. Dân Việt nói chung và dân Định Công đây thuần hậu và phép tắc chỉ chờ danh có chính thì hương khói thuận thôi. Một tấm bằng công nhận di tích cứ cho là cấp tỉnh đi cũng được (với lại cấp Trung ương cũng chả eo hẹp gì mà không ban cho quê nhà Bà Triệu đây một cái sắc phong?).

Hương khói Đền Bà Triệu này cũng nối cái mạch du lịch tâm linh chỉ non hai cây số đường nữa thôi là khách sẽ đến xã Định Thành ngay bên Định Công để đến quê của vị trạng nguyên nước Nam thời Bắc thuộc Khương Công Phụ.

Danh thang mot mien que - Anh 3

Đền thờ Khương Công Phụ.

Ông quan làm việc lớn bên Tàu

Đền thiêng Khương Công Phụ tọa lạc hàng bao đời ngay giữa trung tâm xã và cũng là nơi làm việc của các cơ quan quyền lực địa phương xã Định Thành.

Đến Đền thiêng phải làm cái việc hạ mã tức là cho xe đậu tít ngoài đường chỗ khuất. Nhưng mấy thanh niên làng bảo các ông cứ đánh thẳng vào Ủy ban kia...

Đền thiêng? Phải lắm! Sử làng cùng sử nước đã đồng thanh mà rằng: Khi nước Việt ta còn bị nhà Đường ở phương Bắc đô hộ, đã có một người Việt đỗ thủ khoa trong kỳ thi Hán học của nhà Đường, đó là Khương Công Phụ. Ông sinh năm 793 ở làng Sơn Ổi, xã Cổ Hiển, Tổng Cốt Hải, huyện Yên Định nay là làng Tường Vân, xã Định Thành, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Ông là một trong 8 vị cống sĩ xứ Giao Châu trúng tuyển, được cử đi thi Hội ở Tràng An (Trung Quốc), sau đó nhà Đường lại mở thêm khoa Chế, ông đỗ xuất sắc với bài Đối trực ngôn cực gián cùng với người em là Khương Công Phục mà đương thời cũng rất nổi tiếng, đã đem lại danh dự và uy tín cho người Việt ở phương Nam. Con người và tác phẩm của anh em họ Khương cũng đã được giới thiệu trong nhiều sách vở của Trung Quốc cũng như Việt Nam như: Từ điển văn hóa Việt Nam (phần Nhân vật chí) Nxb Văn hóa Thông tin, 1993; hay trong Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đồng Chi, hay trong Toàn Đường văn, Q.446.

Trạng nguyên Khương Công Phụ được đích thân vua Đường thăng các chức Hiệu thư lang, Gián nghị đại phu, rồi Tể tướng. Đây quả là trường hợp ''có một không hai" trong lịch sử Việt Nam, một người Việt thường bị bọn thống trị phương Bắc gán cho là "man dí', lại cầm đầu bộ máy cai trị của cả đất nước Trung Hoa thiên tử!

Sử sách vẫn ghi: có một số vị Trạng nguyên nước ta do tài năng lỗi lạc học vấn uyên bác, nên khi sang sứ Trung Quốc, cũng được vua Trung Quốc phong làm Trạng nguyên nên người đời mệnh danh là Lưỡng quốc Trạng nguyên như Mạc Đĩnh Chi thế kỉ XIII, Nguyễn Đăng Đạo thế kỉ XVII, XVIII...

Song giữ chức Tể tướng, đứng đầu triều đình Trung Quốc thì có lẽ chỉ mình Khương Công Phụ!

Sự kiện hai anh em họ Khương đất Việt cùng đỗ Tiến sĩ và cùng làm quan bên Trung Quốc, đã được người đời sau nắc nỏm:

Nhất triều trung huynh đệ đồng khoa/ Thiên tải hạ Bắc Nam khởi kính

Những năm gần đây, giới nghiên cứu lấy làm tâm đắc khi cuốn gia phả về họ Khương được phát lộ ở đất Thạch Thất (Hà Tây cũ). Đó là cuốn gia phả viết bằng chữ Hán xen Nôm.

Chữ viết đẹp, rõ ràng trên giấy dó khổ 17 x 25cm, dày 70 trang, mỗi trang khoảng 150 chữ. Gia phả khẳng định ở nước Nam chỉ có một họ Khương duy nhất nhưng đã có nhiều chi rải khắp nước.

Mở đầu là lời tựa của gia phả ghi ngày tốt tháng 3 năm nhuận niên hiệu Thành Thái thứ 10 (1899), khẳng định: Muôn vật đều có gốc và giới thiệu nguồn gốc dòng họ Khương từ cụ Khương Văn Đĩnh làm Huyện thừa Tiến sĩ, cụ sinh ra Khương Công Phụ Trạng nguyên và Khương Công Phục Tiến sĩ vv...

Cuốn gia phả, dĩ nhiên là tư liệu quý giá cho giới nghiên cứu sử.

Đặc biệt, Gia phả không chỉ thống kê những niên biểu khô khan. Gia phả chép cả những trước tác của trạng nguyên Khương Công Phụ. Những tác phẩm ca ngợi công đức tài năng của vị Tể tướng người Nam. Chẳng hạn một bài dưới đây.

Người tài ở phương Nam được tin dùng phương Bắc/ Nơi đất Yên Định, sông núi xuất hiện tướng nho/ Anh em đỗ đạt cao trước cả hai ông họ Tống/ Văn chương nho nhã tựa ba ông họ Tô/ Chi phái họ Khuơng nay vẫn truyền lại ở ấp ấy/ Tể tướng nhà Đường công danh sáng rực kinh đô/ Trung hiếu thần tiên ngàn năm vẫn còn đó/ Muốn đem ngọn bút mới tả lại công nghiệp tổ tiên.

Sải những bước dài, thành kính vào Đền nhưng hết thảy chúng tôi đều ngơ ngác bởi khung cảnh quá ư xơ xác, tiêu điều. Đền chính từ xa ngó lọt thỏm trong ba bức tường phá nham nhở của một cái nhà xây chắn ngang ngôi đền ghi bên hồi 1979. Đền chính đã bị phá chỉ còn một am thờ còn bé và bệ rạc hơn am thờ Bà Triệu bên Định Công kia! Tuy vậy vẫn còn ba chữ Trạng Nguyên Từ trên nóc am khá nét. Ngó kỹ hơn phía dưới có mấy chữ đã mờ Khương Công cố trạch (đất cũ của Khương tiên sinh) Tất tật chỉ có vậy.

Chúng tôi lần lượt dâng hương từ bên ngoài. Bắt đầu từ tấm bia Khương tiên sinh bi ký. Bia lắm chữ đã mờ... Nhưng cũng lõm bõm đọc được công đức lẫn huân nghiệp của vị trạng nguyên. Bia lập thời Tự Đức.

Trưa nắng vắng. Ới mãi mới thấy một cụ ông râu tóc trắng đang quẩy đôi thùng nước. Ngồi lại với nhau mới biết đó là ông Vũ Xuân Thường 68 tuổi người trông coi khu Đền thiêng này. Hỏi thăm gia cảnh, ông cười rung cả chòm râu bạc bảo đời tôi nói chung là gay lắm các ông ạ.

Gay? Phải, ông từng làm nghề địa chất sau đi bộ đội chiến đấu 10 năm ở chiến trường B2 về quê từng giữ chân xã đội trưởng, thư ký Hội đồng nhân dân xã nhiều năm. Vợ mất. Lao đao một thời gian. Từ khi lấy vợ mới rồi cũng nếp tẻ đủ cả! Ngồi một lúc với ông Thường thấy bừng ra lắm thứ bí ẩn về dòng họ Khương lẫn ngôi Đền thiêng từng bị làm khó! Điều lạ lùng là trong hàng ngàn hộ ở Định Thành nhõn mỗi một hộ họ Khương? Ấy là cụ Khương Công Thành (nay đã mất). Cụ sinh được 5 người con trong đó có Khương Công Thắng là trưởng.

Tòa đền thiêng nguy nga cái thuở tuổi nhơn nhớn trật tuổi ông Thường hẵng còn được chứng kiến. Ông xăng xái chỉ cho tôi một vài vật chứng, chẳng hạn như vài viên đá tảng kê chân cột nằm lăn lóc ven tường Đền. Tảng ấy văng ra không biết tự bao giờ? Cứ căn cứ theo độ lớn của viên đá tảng thì khắc suy ra ngay những cột đền bằng gỗ lim to tày người lớn ôm hoặc gấp rưỡi, gấp đôi.

Những viên gạch vỡ lạ màu đo đỏ bàng bạc vứt lăn lóc kia dường như đang âm thầm khoe thân phận niên đại vài trăm năm chứ không ít? Tôi cũng chú mục vào mấy dấu tích cổ thụ từng bị đốn ngã. Cuộc thảm sát cổ mộc này chắc đã lẩu lâu nhưng độ xòe của rễ và cái vành gốc còn sót lại (nhiều gốc khác đã bị bạy bị moi để làm củi) đã tố cáo một thuở um tùm xum xuê đáng nể.

Phải, tinh những giống muỗm, giống đa cổ thụ cả đấy các ông ạ. Mà thứ này phải vài trăm năm có sau hoặc cùng với Đền. Cái thở dài của ông Thường nói cũng có cơ sở. Đền thiêng Khương Công Phụ ở làng Sơn Ổi này nghe nói có từ trước thời Lý. Cụ Khương Công Phụ được vua Đường thuận chuẩn cho về quê Yên Định đây hưu trí rồi mất tại quê nhà. (Trong câu chuyện có mấy lần ông Thường hướng cái nhìn kính cẩn về phía đền rồi cung kính lạy ba vái mới nói tiếp mộ của ngài để ngay trong đền theo kiểu Thượng sàng hạ mộ...

Các triều đại dằng dặc thay nhau chăm bẵm phần mộ cùng đền thiêng vị trạng nguyên nước Nam từng làm Tể tướng nhà Đường. Lần thì sắc phong (ca ngợi công đức tài năng) lần thì kiến sắc (cho tu bổ sửa sang). Cây cũng là di tích là vật linh cấu thành nên di tích. Cổ mộc nào chẳng may bị sâu mọt đục hoặc bão đổ thì cho trồng mới. Mà thứ mọt thứ bị bão quất nào có là bao. Những danh chính cùng với ngôn thuận việc thuận ấy đã dằng dặc tạo dựng Trạng Nguyên Từ nghiêm cẩn linh thiêng cho bao thế hệ người Đại Việt đến đây chiêm bái. Thế mà có lâu la chi, thời gian chỉ nhẩm đếm trên hai con số, chưa tới một hoa giáp, đợt phá trước đợt phá sau mọi sự đã thê lương dường này?

Tôi chú mục vào cái ao trước Đền và bây giờ là trước trụ sở Ủy ban xã. Có thể trước đây cái ao này hình tròn hoặc bán nguyệt tạo thế đắc địa phong thủy cho Đền. Hậu sơn tiền thủy và cả tiền sơn nữa... Khi nãy ngắm đôi câu đối (chắc của người xưa nhưng đã mất nay chép lại. Mặc dù chữ còn nguệch ngoạc, nhưng là dấu tích sự thành tâm của hậu thế trước thời @ một chút) để trong Đền.

Đại địa văn chương truyền thượng quốc. Cố huơng miếu mạo đối kiều sơn.

Vế đầu có thể tạm hiểu đất linh thiêng đưa văn chương sang tận Trung Hoa. Còn vế thứ hai. Tại sao lại kiều sơn?

Quá uẩn súc về ngữ nghĩa! Có thể hiểu Miếu lành nơi quê nhà như cái cầu nối hai ngọn núi với nhau hoặc miếu thiêng nơi cố hương có thể đăng đối với hai ngọn núi bên cạnh? Đứng xích ra mé đền một chút, lúc này tôi mới để ý đến hai ngọn núi đá hình thế rất đẹp làm cái án trước sau cho khu Đền. Chao ôi thế đối sơn ấy chắc đã có từ thuở lăng lắc khi cụ rời kinh đô Tràng An của Trung Hoa hưu trí về xứ Giao Chỉ chứ không phải là Nam di? Chợt giật mình hơi hoa mắt khi thấy bên một sườn non của hậu Đền những vệt lở lói do mìn đánh đá vạc ra nom đến khiếp. Nhưng cũng may, cứ như ông Thường cho hay thì đã có lệnh cấm không được đánh mìn phá đá ở hai ngọn núi kia nữa chứ không thì vài năm vài chục năm nữa hai ngọn đối sơn kia sẽ lở lói sẽ cụt dần rồi biến mất. Kinh thay hãi thay cho cái thời người ta bỗng chốc mà rinh cả núi cả sông đi như thế?

Vòng một lượt trong khu Đền, tôi chạm mặt với vị trí làm việc của UBND, HĐND... Qua biết bao những dinh cơ tầm, xã tầm phường đã và đang được xây cất khang trang những lầu ốc sáng choang nhôm kính này khác, thử so sánh thấy vị trí làm việc của các đồng chí địa phương đây còn quá là khiêm tốn nếu không muốn nói là còn tạm bợ.

Lại nghĩ cũng chạnh thương lẫn nể cho các nhà chức việc của xã đây. Định Thành có lẽ là một xã đang còn nghèo chứ nếu mát mặt một chút thì đã có kinh phí trên rót xuống để mạnh bạo mà di cư cái cơ ngơi quyền lực của địa phương tới một nơi khác đắc địa hơn thênh thang hơn chứ không trong khu Đền thờ ngài? May mà ngài thương chưa quở trách gì? Nhưng trước khi (nếu ) xảy ra sự dữ ấy, các cơ quan hữu trách của Yên Định của Thanh Hóa có lẽ nên mau mau thực thi cái việc rót kinh phí để di dời vị trí làm việc của các nhà chức việc Định Thành để làm cơ sở cho việc xây dựng tôn tạo lại lại khu Đền thiêng Khương Công Phụ?

Nhất cử lưỡng tiện mà?

Xuân Ba

Từ khóa

danh thắng miền quê