Do đua đòi theo bạn bè nên anh trai tôi dính vào nghiện ngập. Gia đình khuyên lập gia đình, nhưng anh trai tôi từ chối và nói chỉ muốn xin con nuôi. Hiện anh tôi đang cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện và nhờ gia đình làm các thủ tục để anh ấy nhận nuôi con nuôi. Xin hỏi, anh trai tôi có được quyền nhận nuôi con nuôi hay không?

Dang cai nghien co duoc nhan con nuoi? - Anh 1

Nguyễn Thị Thủy (quận Hà Đông, Hà Nội)

Trả lời:

Việc cho, nhận trẻ em làm con nuôi chỉ thực sự cần thiết và vì lợi ích của trẻ em được cho làm con nuôi. Điều này có nghĩa, việc đưa trẻ em ra khỏi gia đình ruột thịt của mình để làm con nuôi người khác chỉ có thể xuất phát từ lợi ích của chính trẻ em. Mặt khác, việc cho, nhận con nuôi là xác lập quan hệ cha (mẹ), con nên phải đáp ứng được các điều kiện nhất định do pháp luật quy định.

Theo Điều 14, Luật Nuôi con nuôi quy định: “Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; có tư cách đạo đức tốt”.

Điều luật này cũng quy định những người sau đây không được nhận con nuôi: “Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; đang chấp hành hình phạt tù; chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em”.

Căn cứ các quy định nói trên, anh trai bạn sẽ không được nhận nuôi con nuôi do đang bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện. Sau này, anh trai bạn chấp hành xong quyết định cai nghiện bắt buộc thì mới được quyền nhận nuôi con nuôi. Theo đó, thủ tục nhận nuôi con nuôi gồm: “Đơn xin nhận con nuôi theo mẫu quy định (bản chính); Hộ chiếu/Chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế (bảo sao); Phiếu lý lịch tư pháp (bản chính, được cấp chưa quá 6 tháng); Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân (bản sao nếu là Giấy chứng nhận kết hôn hoặc bản gốc nếu là giấy xác nhận tình trạng độc thân; Giấy khám sức khỏe do cơ sở y tế cấp huyện trở lên cấp (bản chính, được cấp chưa quá 6 tháng); Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do UBND cấp xã/phường nơi người nhận con nuôi thường trú cấp (trường hợp cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi thì không cần văn bản này) (bản chính, được cấp chưa quá 6 tháng).

Người nhận con nuôi nộp hồ sơ của mình tại UBND cấp xã/phường nơi người được nhận làm con nuôi thường trú (đối với các trường hợp thông thường), hoặc tại UBND cấp xã/phường nơi người nhận con nuôi thường trú (nếu là cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi hoặc có sự thỏa thuận giữa người nhận con nuôi với cha mẹ đẻ, người giám hộ của người được nhận làm con nuôi); UBND cấp xã/phường kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến của những người có liên quan; Công chức tư pháp-hộ tịch ghi vào sổ đăng ký việc nuôi và Giấy chứng nhận nuôi con nuôi; Chủ tịch UBND cấp xã/phường ký Giấy chứng nhận đăng ký nuôi con nuôi. Người nhận con nuôi nhận Giấy chứng nhận đăng ký nuôi con nuôi tại trụ sở UBND cấp xã/phường (nhận tại lễ giao nhận con nuôi).

Luật sư Nguyễn Thu Anh

(Đoàn Luật sư TP Hà Nội)

Báo Gia đình và Xã hội cập nhật tin tức trong ngày liên tục, mới nhất