Báo Việt Nam độc lập, cơ quan ngôn luận của Mặt trận Việt Minh, ngày 1/2/1942 đã đăng bài đầu đề “Nên học sử ta” của Nguyễn Ái Quốc: “Dân ta phải biết sử ta / Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời”.

Dan ta phai biet su ta - Anh 1

Chiến thắng Bạch Đằng chói ngời trong lịch sử dân tộc.

Viết về những chiến công vĩ đại của ông cha ta, xin trích một đoạn:

“Đời Trần quân Nguyên Mông đánh đâu được đấy, chiếm nước Tàu và nửa châu Âu, thế mà ba lần bị ông Trần Hưng Đạo đánh tan. Bình dân như ông Lê Lợi và ông Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Tàu làm cho nước ta độc lập”.

Bài báo đã đặc biệt lưu ý mọi người Việt Nam ghi lòng tạc dạ bài học cốt tử đã có từ bao đời: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.

Cuối bài báo có ghi thêm:“Vừa mới xuất bản quyển “Sử nước ta” bằng thơ. Hay lắm, giá mỗi quyển 1 hào, ai muốn mua hỏi cán bộ địa phương.

Quyển “Sử nước ta” bằng thơ xuất hiện sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8 họp tại Pắc Bó (Cao Bằng) giữa tháng 5/1941. Sau hơn 30 năm ra đi tìm đường cứu nước, đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước đầu tháng 2/1941. Đồng chí đã triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 8 để thành lập Mặt trận Việt Minh.

Tại hội nghị, đồng chí giải thích cặn kẽ, ở nước ngoài, được sống giữa trung tâm của những cơn bão cách mạng, cũng là trung tâm của văn hóa, văn minh loài người, đồng chí hiểu rõ ngọn ngành những tinh hoa cũng như những khuyết tật của phong trào cách mạng ở Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc đã trải qua để khi về đến Tổ Quốc, đồng chí đã nắm chắc phải làm gì cho nhân dân.

Quan điểm “Lấy dân làm gốc” của ông cha ta, coi sức mạnh vô địch là dân, tận dụng sức dân, tài dân từng người thuộc bất cứ giai cấp nào, không bỏ sót ai, huy động tối đa sức mạnh toàn dân tộc để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền dân tộc.

“Lấy dân làm gốc” kết hợp với đoàn kết toàn dân, đã được thử thách qua mấy cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông (1284), giặc Minh (1414), giặc Thanh (1789) và đến ngày nay đánh Pháp, đuổi Nhật, đường lối giữ nước, chống ngoại xâm của ông ta ta càng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Hội nghị đã hoàn toàn đồng tình với đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Việt Minh tiếp thu trọn vẹn truyền thống đoàn kết muôn người như một của ông cha, bắt nguồn từ “Lấy dân làm gốc”.

Đã đoàn kết muôn người như một, đương nhiên trong lòng dân tộc không có hận thù, giai cấp này không chống giai cấp kia, các giai cấp sát cánh trong Mặt trận Việt Minh, no, đói, sống, chết có nhau. Đảng viên rất ít nhưng Đảng rất mạnh, cơ sở quần chúng xung quanh mỗi đảng viên rất đông, không những là nhân dân lao động mà còn là người của các tầng lớp, các giai cấp.

Thông suốt với chủ trương chiến lược hàng đầu “đoàn kết muôn người như một” trong toàn Đảng là đòi hỏi vô cùng cấp bách. Tài liệu học tập, đào tạo cán bộ Việt Minh là “Lịch sử nước ta” do đồng chí Nguyễn Ái Quốc viết sau Hội nghị, theo thể diễn ca song thất lục bát để dễ thuộc và truyền miệng vì nhiều người mù chữ kể cả một số cán bộ cơ sở. Không chỉ ở các trường, lớp, tập diễn ca lịch sử còn được phổ biến rộng rãi trong nhân dân ta nhằm giáo dục và động viên mọi người phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc.

Dan ta phai biet su ta - Anh 2

Sử nước ta là kho tàng kinh nghiệm đánh giặc giữ nước trong kháng chiến và yên dân trị nước trong hòa bình xây dựng.

Kháng chiến toàn quốc ngày 19/12/1946, hơn hai tháng sau Chính phủ ta rời Hà Nội. Trên đường lên Việt Bắc, Bác Hồ làm việc tại Thanh Hóa mấy ngày, tại đây Bác đã đọc lại “Lịch sử nước nhà”. Trong cuốn hồi ký “Chiến đấu trong vòng vây” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đoạn rất đáng chú ý:

“Một hôm anh Vũ Kỳ, Thư ký của Bác viết thư cho tôi nói Bác cần có một cuốn lịch sử Việt Nam. Thật khó tìm được cuốn sách này khi mọi người đã rời thành phố với chiếc ba lô trên vai. Sau đó tôi được biết anh Kỳ đã tìm được cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim. Bác đánh dấu những đoạn viết về các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm, đặc biệt là chiến tranh chống giặc Nguyên Mông và khởi nghĩa Lam Sơn và dặn anh Kỳ nhắc anh Thận và tôi nên đọc lại những đoạn đó”(trang 20).

Anh Thận là Tổng Bí thư Trường Chinh. Sử nước ta từ thế kỷ 12 đánh giặc Nguyên Mông đã ghi “lấy yếu đánh mạnh, lấy ít đánh nhiều”, thậm chí không đánh vẫn khuất phục được địch. Sử còn ghi: đốt sạch cánh đồng, không để lương thực cho địch, quân Nguyên Mông có vùng đã chiếm bảy, tám ngày lại phải rút dù quân ta chưa đánh vì không có lương ăn, cũng không gặp người dân nào để hỏi thăm tình hình và bắt lính (vườn không nhà trống).

Đức Trần Hưng Đạo truyền hịch cho tướng sĩ tại bến Đông Bộ Đầu, quân thủy và quân bộ gồm 20 vạn trước khi mở cuộc tiến công quân Nguyên Mông. Truyền hịch mở đầu ghi trong Sử nước ta: “Các vương hầu, các tướng sĩ ai nấy phải giữ phép tắc, đi đâu cũng không được nhũng nhiễu dân, việc quân có luật, phép nước không thân, các ngươi phải giữ”.

Quân đội chỉ giúp dân, không làm hại dân, lực lượng võ trang đã dần dần là của nhân dân từ bảy, tám thế kỷ trước. Đức Trần Hưng Đạo xin về trí sĩ, khi bị bệnh nặng, vua Trần Anh Tông ngự giá đến thăm, nội dung trao đổi giữa vua và vị thống soái vĩ đại, đã được ghi khá đầy đủ trong sử nước nhà. Biết là Đức Trần Hưng Đạo sắp mất, vua Trần Anh Tông hỏi: “Thượng phu một mai khuất núi, phỏng có quân phía Bắc lại sang thì làm thế nào?

Hưng Đạo vương tâu rằng (trích): “Kẻ kia cậy có tràng trận còn ta thì chỉ đoán binh, lấy đoản chống nhau với tràng, phép dùng binh thường vẫn phải thế. Giặc Nguyên Mông kéo đến vây bọc bốn mặt, còn ta vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức lại mà đánh mới bắt được tướng và thắng quân Nguyên Mông. Từ lúc thời bình phải khoan sức cho dân, để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là cái thuật giữ nước hay hơn cả”.

Vào những ngày bắt đầu chuyển sang cuộc kháng chiến toàn quốc và trường kỳ, thời gian rất bận với bao đảo lộn không thể tránh khỏi, nhưng Bác Hồ vẫn yêu cầu Tổng Bí thư và Tổng Tư lệnh đọc hai đoạn sử nước nhà về đánh giặc Nguyên Mông (thế kỷ 12) và giặc Minh (thế kỷ 15).

Những bài học chống ngoại xâm của ông cha đã qua nhiều thế kỷ nhưng rõ ràng vẫn mang tính thời sự nóng bỏng: Khi thắng giặc Nguyên Mông có phần đóng góp đáng kể của chiến tranh du kích, trong khi đầu năm 1947, chiến tranh du kích còn mới mẻ với ta.

Trong “Sử nước nhà” bằng thơ của Nguyễn Ái Quốc, có bốn câu thơ ca ngợi hai ông tổng đốc Hà Nội. Ngày 24/11/1873, quân Pháp tiến công thành Hà Nội và chúng đã chiếm được thành. Tổng đốc Hà Nội và trực tiếp chỉ huy giữ thành Hà Nội là Khâm sai đại thần Nguyễn Tri Phương. Ông bị thương, cũng bị mảnh đại bác như gần 10 năm trước bị thương nặng ở đồn Chí Hòa (Sài Gòn). Con trai ông là Nguyễn Lâm hy sinh tại trận. Địch bắt ông và chúng chăm sóc ông rất chu đáo để mua chuộc ông. Mất thành Hà Nội, có tội với dân, với nước, ông đã tự xử bằng cách nhịn đói đến chết. Ngày 25/4/1882, Pháp lại đưa quân từ Nam Kỳ ra Bắc, chúng lại tiến công thành Hà Nội.

Tàu chiến Pháp dàn trận trên sông Hồng, nhất loạt bắn vào thành Hà Nội, công phá Cửa Bắc. Tổng đốc Hà Nội là ông Hoàng Diệu kiêm trực tiếp chỉ huy tại trận. Quân lính dưới quyền ông chống lại địch rất quyết liệt nhưng địch quá đông đã chiếm được thành. Hoàng Diệu đã kịp vào hành cung thảo tờ biểu trần tình rồi thắt cổ tự vẫn trong vườn Võ Miếu. Nhân dân Hà Nội rất kính phục hai ông đã tự kết liễu đời mình vì trách nhiệm triều đình và nhân dân giao phó đã không hoàn thành.

Bốn câu thơ ca ngợi hai ông tổng đốc Hà Nội như sau:

Nước ta nhiều kẻ tôi trung
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương
Cùng thành còn, mất làm gương để đời.

Thành còn thì mình còn, thành mất thì mình là chỉ huy cao nhất phải biết tự xử. Hai ông chiến đấu từ Nam ra Bắc, công lao về mọi mặt rất lớn nhưng Nguyễn Ái Quốc đã ca ngợi hành động cao đẹp nhất, coi trách nhiệm cá nhân Nhà nước giao là thiêng liêng, không hoàn thành không thể tha thứ.

... Sau Đại hội Đảng lần thứ XII, Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” tiếp tục là trọng tâm thực hiện để làm trong sạch đội ngũ. Nghị quyết ra đời đã hơn 5 năm, từ Hội nghị Trung ương 4, Đại hội XI, cuộc đấu tranh chống tham nhũng vẫn diễn ra gay go. Tuy nhiên, cuộc chiến chống tham nhũng đang được đẩy mạnh.

Ngày 1/10/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng- Trưởng Ban Chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng đã chủ trì cuộc họp để thảo luận, cho ý kiến về kết quả thực hiện kết luận cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo ngày 18/4/2016 và một số nhiệm vụ trọng tâm về công tác PCTN thời gian tới.

Đáng chú ý, Thường trực Ban Chỉ đạo thống nhất chủ trương đưa 6 vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp ra xét xử sơ thẩm từ nay đến cuối năm 2016 và trong quý I/2017. Cùng với đó, Thường trực Ban Chỉ đạo yêu cầu khẩn trương đưa ra xét xử phúc thẩm 6 vụ án có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật; giao Ban Nội chính trung ương- Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo theo dõi, đôn đốc, báo cáo tiến độ, kết quả thực hiện.

Ban Chỉ đạo cũng lưu ý, với quyết tâm chính trị cao, các cơ quan chức năng cần tích cực, chủ động thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền theo quy định của pháp luật; chú trọng nâng cao chất lượng công tác điều tra, giám định; chú ý phân loại để xử lý nghiêm đối với người chủ mưu, cầm đầu, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng. Bên cạnh đó, chú trọng các biện pháp để thu hồi tài sản tham nhũng; khẩn trương xét xử phúc thẩm các vụ án có kháng cáo, kháng nghị và điều tra, xử lý các kiến nghị của HĐXX theo đúng quy định của pháp luật.

Lịch sử là sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, soi sáng cho tương lai. Học tập, áp dụng lịch sử chúng ta đã thu được nhiều thành tựu cực kỳ quan trọng trong các cuộc kháng chiến cứu nước, cũng như xây dựng đất nước trong hòa bình. Nhưng, cũng chính vì thế rất cần nhắc nhở việc phải học lịch sử, phải hiểu lịch sử nước nhà để giữ gìn, dựng xây đất nước. Tiếc rằng, những nhân tài xuất chúng trong quá khứ làm nên biết bao chiến công lừng lẫy, đất nước từng có vị trí đáng kể trên thế giới nhưng ngày nay nhiều người lại ít biết.

Thái Duy