Lý Nhật Quang sinh ra và lớn lên tại kinh thành Thăng Long, song lập nên nghiệp lớn vì nước, vì dân, rồi đi vào cõi vĩnh hằng và hiển thánh trên đất trại Nghệ An. Công lao hiển hách của Lý Nhật Quang nói lên mối quan hệ khăng khít giữa Kinh thành Thăng Long với đất trại Nghệ An dưới thời Lý. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phóng viên tại Nghệ An có cuộc trao đổi với PGS Ninh Viết Giao - Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian hàng đầu của xứ Nghệ, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An. Sau đây là nội dung cuộc trao đổi.

PGS Ninh Viết Giao: Đất Nghệ An dưới thời Lý là vùng trại, là biên viễn, phên dậu phía Nam của Tổ quốc. Vì vậy muốn đưa Đại Việt bước vào thời kỳ thịnh vượng thì kế sách của triều đình nhà Lý phải làm cho đất trại Nghệ An nội trị ổn định về mọi mặt, ngoại trị không cho bên ngoài xâm phạm. Để củng cố và phát triển vùng đất quan trọng này, triều đình nhà Lý đã cử Lý Nhật Quang sinh năm Mậu Tý ( 988) - con trai thứ tám của Lý Thái Tổ vào làm Tri châu Nghệ An. Thửa nhỏ, Ngài được vua cha và hoàng tộc rèn cặp. Bản tính thông minh, Lý Nhật Quang sớm bộc lộ khí chất dũng cảm, trung hiếu và có tài kinh bang tế thế. Năm 1039, Lý Nhật Quang được triều đình cử vào Nghệ An trông coi việc tô thuế. Năm Tân Tỵ (1041), Lý Nhật Quang được bổ làm Tri châu Nghệ An và chọn vùng đất Bạch Đường là vùng núi rừng có địa thế hiểm trở như thiên la địa võng. Phủ lỵ châu Nghệ An được Lý Nhật Quang đặt ở dưới chân núi Quả Sơn thuộc vùng Bạch Đường. Từ phủ lỵ này, Ngài có thể quản lý và khống chế được cả vùng đất Nghệ An từ các vùng ven biển, đồng bằng, trung du cho đến thượng du khá chặt chẽ. Sau khi ổn định vùng lỵ sở Bạch Đường, Lý Nhật Quang tích cực chiêu mộ nhân dân và sử dụng cả tù binh để đẩy mạnh khai khẩn đất hoang với quy mô rộng khắp chưa từng có. Các vùng đất Khe Bố, Cự Đồn ở Tương Dương, Nam Kim (Nam Đàn), Hoàng Mai (Quỳnh Lưu), Cửa Hội, Kỳ Anh dưới chân đèo Ngang… tất cả đều do trí tuệ và công lao của Ngài tạo nên. Để có lực lượng vũ trang làm chủ lực cho việc giữ vững vùng biên cương và an ninh chính trị trong nội bộ nhân dân, Lý Nhật Quang đã lập đạo quân Nghiêm Thắng, đại bản doanh đóng trên tả ngạn sông Lam. Về sau vùng đất này nhân dân đã lập nên làng Nghiêm Thắng (nay là xã Đông Sơn, Đô Lương). Lý Nhật Quang đã chú ý khai thông hai con đường huyết mạch trên đất Nghệ An. Đó là con đường thượng đạo từ lỵ sở Bạch Đường ra Thanh Hóa và các tỉnh phía Bắc, con đường lên biên giới Việt - Lào qua huyện Kỳ Sơn. Ngài còn tổ chức nạo vét kênh Đa Cái, đào kênh Bà Hòa để làm thông thương con đường thủy từ Bắc vào Nam, lập các trại quân lương, trong đó có trại kho Bà Hòa để tích trữ lương thực phục vụ tích cực cho quốc kế dân sinh. Ngài còn sáng suốt khởi xướng đắp đê sông Lam để ngăn lũ, bảo vệ xóm làng. Nghệ An là vùng đất trại có nhiều biến động về nội trị và cả ngoại trị nhưng từ khi triều đình Thăng Long cử Lý Nhật Quang đến trị nhậm, với những chính sách thân dân đầy trí tuệ và giàu lòng nhân văn, có tầm nhìn xa rộng nên Nghệ An đã đi vào thế ổn định, chính trị vững vàng, kinh tế phát triển, nhân dân được hưởng thái bình hạnh phúc. Ngày 17 tháng 12 năm Đinh Dậu (1057), Lý Nhật Quang trút hơi thở cuối cùng tại lỵ sở Bạch Đường. Hình hài, thân thể của Ngài được nhân dân kính cẩn vùi trong cát bụi tại chân núi Quả Sơn, anh linh của Ngài đi vào cõi vĩnh hằng, sống mãi trong tâm thức nhân dân xứ Nghệ. Về sau Ngài đã hiển thánh, luôn luôn bảo quốc hộ dân. Lý Nhật Quang là người con của kinh thành Thăng Long nhưng lại hiển thánh trên đất Nghệ An . Cuộc đời và sự nghiệp của Tri châu Uy Minh Lý Nhật Quang đã được nhân dân xứ Nghệ huyền thoại hóa. Ở trên đất xứ Nghệ, nhân dân đã lập hơn 60 ngôi đền để thờ Ngài, nhưng ngôi đền chính ở núi Quả Sơn là uy nghi, to lớn hơn cả. Ngày nay, du khách thập phương vẫn thường đến chiêm bái ngôi đền linh thiêng này. PGS Ninh Viết Giao : Cuộc đời và sự nghiệp hiển hách của Tri châu Lý Nhật Quang đã phản ánh một cách sinh động giữa Kinh thành Thăng Long và đất trại Nghệ An có mối quan hệ lịch sử khăng khít. Triều đình Thăng Long muốn nền chính trị cả nước ổn định và phát triển thì phải chú trọng quan tâm giữ gìn anh ninh trật tự, chấn hưng kinh tế, đưa lại cuộc sống ấm no cho nhân dân Nghệ An. Trong tâm thế đầy hào khí đó, nhân dân Nghệ An càng tin tưởng sắt son vào triều đình Thăng Long. Không những thế, trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước, bất kể thời đại nào, xứ Nghệ luôn là điểm dừng chân, là căn cứ địa quan trọng của các tướng lĩnh, các vị Vua quan trên đường hành quân từ đất Thăng Long đều đi qua xứ Nghệ và tin tưởng, lựa chọn Nghệ An làm nơi nghỉ ngơi, khôi phục binh lính, tiếp thêm lương thực. Ta có thể kể từ đời Trần năm Hưng Long thứ 19 (1311) đời vua Trần Anh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Thuyền ba quân đến cửa Càn Hải tức cửa Cờn, xã Phương Cần, huyện Quỳnh Lưu thì dừng lại nghỉ ngơi. Rồi năm Hồng Đức thứ nhất 1470, vua Lê Thánh Tông đích thân mang quân đánh dẹp phương Nam, cũng dừng lại cảng Xước nghỉ ngơi chỉnh đốn binh lính và vào đền tế lễ. Hay suốt cả quá trình hoạt động, Nguyễn Huệ Quang Trung rất chú ý tới con người xứ Nghệ. Ngày 3/9 năm Thái Đức thứ 11 (1788), Nguyễn Huệ Quang Trung đã hạ chiếu "chỉ đóng đô ở Nghệ An là độ đường vừa cân, vừa có thể khống chế được trong Nam ngoài Bắc và sẽ làm cho người tứ phương đến kêu kiện tiện việc đi về". Nguyễn Huệ Quang Trung đã giao cho Trấn Thủ Thận và La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp tổ chức xây dựng thành Phượng Hoàng Trung Đô. Có thể nói Phượng Hoàng Trung Đô là chứng tích hào hùng thể hiện tầm nhìn văn hóa của Nguyễn Huệ Quang Trung trong quá trình đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng cuộc sống thái bình, ấm no cho dân tộc Việt Nam. Đứng trên đỉnh Dũng Quyết, nhìn về phía Nam là núi Lam Thành, dưới chân núi là đất Phù Thạch, trước đây một thời kỳ dài từng là lỵ sở Hoan Châu. Trên núi có Lam Thành, do Trương Phụ, tướng giặc nhà Minh xây đầu thế kỷ 15. Tại đây, năm 1410 đã diễn ra sự tích danh thần Nguyễn Biểu "ăn cỗ đầu người" để lại cho thế hệ mai sau một tấm gương oanh liệt, bất khuất trước kẻ thù. Nhìn sang bên kia Lam giang là làng Yên Hồ - quê hương của Nguyễn Biểu, làng Đông Thái - quê hương Phan Đình Phùng, làng Tùng Ảnh - quê hương của Trần Phú. Xa xa là dãy Thiên Nhẫn có ngàn đỉnh như ngàn đàn ngựa đuổi nhau. Ở đó có thành Lục Niên của Lê Lợi xây dựng năm 1424 làm đại bản doanh trong sự nghiệp bình Ngô và ngôi mộ của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp - người trí thức lớn của nước ta ở thế kỷ 18. Nhìn về phía Tây Nam, chúng ta bắt gặp Nam Đàn - một vùng quê có nhiều di tích lịch sử văn hóa như Sa Nam - quê hương Mai Hắc Đế, làng Đan Nhiệm - quê hương Phan Bội Châu. Song tiêu biểu nhất, thiêng liêng nhất là làng Kim Liên - quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam - ngày nay đã trở thành địa chỉ thân thuộc của đông đảo du khách trong nước và quốc tế. PGS Ninh Viết Giao : Đúng vậy, mối giao thoa giữa văn hóa và con người là ở đấy. Tôi chỉ nói từ đời Hậu Lê trở về trước có các danh thần Hồ Tông Thốc (thế kỷ XIV), Nguyễn Biểu (?-1413), Bùi Cầm Hổ (1390-1483), Ngô Trí Hòa (1563-1628), Hồ Sĩ Đống (1739-1785), Nguyễn Nghiễm (1708-1776)… họ đều là con em ở đất địa linh xứ Nghệ, mang dòng máu thông minh, hào hùng, bất khuất của nhân dân xứ Nghệ. Cha mẹ họ chẳng giàu có gì nhưng đã vất vả lao động nuôi họ bằng hạt lúa, củ khoai, bằng cả truyền thống hiếu học và khổ học của quê hương. Bản thân họ với ý chí vươn lên, họ cố học tập, cố sôi kinh, nấu sử, càng học trí tuệ họ càng tỏa sáng ở các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình và ghi tên trên bảng vàng ở bậc đại khoa (Tiến sĩ). Ra đời với phương châm là hành đạo chứ không hành lạc, có thể họ làm quan ở ngay đất kinh kỳ Thăng Long, có thể ở địa phương khác rồi mới được về Thăng Long, song tắm gội văn hóa đất Tràng An, nơi trai thanh gái lịch, nơi hội tụ của bao danh sĩ, danh tướng, danh thần, cọ xát với bao đại khoa đại thần, trí giả khác trong cả nước. Trong quá trình phò vua giúp nước, họ đã ra sức học hỏi, đóng góp về đường lối, về chủ trương, về cơ mưu có tính chất sáng tạo, chiến lược làm chuyển biến cơ đồ đất nước. Nói danh thần xứ Nghệ với nghìn năm Thăng Long cũng là nói bao danh thần xứ Nghệ với học vị tiến sĩ, vốn học vấn uyên bác, từng được nhà vua cử giữ chức Tế tửu quốc sử giám, Thừa chỉ Viện Hàn lâm, quốc sự, thị giảng, thị độc. Đó phải chăng là đào tạo nhân tài cho đất nước, trong đó có con em Thăng Long hay sao. Hào khí Thăng Long sáng lên, rực rỡ hơn lên về học vấn, tài năng và nhân cách của các danh thần, trong đó có các danh thần xứ Nghệ. Mà hào khí xứ Nghệ cũng lộng lẫy, thấm đẫm hơn bởi đã sinh ra được những danh thần trung nghĩa tuyệt vời cho đất nước. Họ sống với đạo lý làm người, họ ít để tiền bạc, nhà cửa, ruộng vườn mà để chữ đức, chữ nhân cho con cháu, cho nhân dân. Bởi thế khi qua đời, danh thần nào cũng được nhân dân tôn là phúc thần lập đền thờ. Những gì đã có trong suốt chiều dài lịch sử, con em xứ Nghệ hôm nay cũng đã rất thành đạt trên con đường lập nghiệp ở đất Thăng Long kinh kỳ. Không thể kể hết hiện nay xứ Nghệ có bao nhiêu tiến sỹ, giáo sư, nhà khoa học… đang nắm giữ nhiều chức vụ chủ chốt của Đảng, Nhà nước tại Thủ đô Hà Nội. Chính họ đang tiếp nối thêm truyền thống văn hóa, truyền thống khoa bảng của vùng đất văn vật có bề dày 985 năm danh xưng Nghệ An tại vùng đất 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.