Trong ảnh: (Hàng sau): Ông Huỳnh Văn Chính, nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, Tần Hoài Dạ Vũ.(Hàng trước): Nhà báo Đặng Minh Phương, Huỳnh Văn Hoa, Hồ Duy Hùng

(Cadn.com.vn) - Hơn 20 năm đi làm báo với biết bao vui buồn, một câu chuyện dài nhiều tập mà tôi chưa có dịp viết ra. Nhiều người trong số bạn bè cùng thời với tôi, thời bao cấp hầu như đều đến với nghề làm báo tình cờ với tất cả đam mê, hồn nhiên hơn các bạn trẻ sau này. Khi về hưu, ngồi điểm lại từng khuôn mặt thân quen, tôi thấy gần như mỗi người đã tự khắc họa chân dung mình mỗi vẻ trong cái nghề đầy khắc nghiệt này.

Da tinh nguyen mot kiep tam (*) - Anh 1

Tôi làm báo kinh tế, nên có nhiều cơ hội để tiếp cận với các doanh nhân ngay từ thời bao cấp. Quen nhiều, nhưng ít người mình thân thiết, thậm chí rất mau quên vì chỉ tiếp cận, tác nghiệp báo chí mà thôi, ít mấy ai cùng hội cùng thuyền. Thế mà trong số các doanh nhân ấy, vẫn còn vài người luôn gần gũi, thân thiết với tôi cho đến tận ngày nay. Một trong những người tôi yêu quý, kính trọng lâu bền, đó là anh Huỳnh Văn Chính, người đã tạo dựng một thương hiệu lớn cho Đà Nẵng bằng chính tâm huyết của mình: Công ty Dệt may 29-3. Anh vừa là người bạn, vừa là một doanh nhân đặc biệt mà tôi ngưỡng mộ. Đâu dễ ai cũng có một tác phẩm trong đời như anh vậy. Làm kinh tế ăn xổi thì nhiều, nhưng để lại tên tuổi vì lợi ích cho cuộc đời này mới khó. Đến nay, Huỳnh Văn Chính lại ngồi nhặt nhạnh từng bản thảo từ những bài thơ của thời niên thiếu, thơ vui nói lái sau này, đặc biệt là những hồi ức thấm đẫm tình yêu gia đình, quê hương, đất nước sâu nặng trải dài suốt cuộc đời mình để lưu lại cho con cháu mai sau. Một đời nhả tơ chất chứa bao thăng trầm dâu bể, bao lo toan, hạnh phúc từng ngày mà cả một đời anh hiến tặng cho đời:

Ta chừ còn lắm lao đao

Lòng ta rừng biển rì rào quanh năm

Đã tình nguyện một kiếp tằm

Khó khăn vẫn phải góp phần nhả tơ ...

Thực ra, đọc lại những bài thơ thời anh còn là cậu học trò trường Trần Quý Cáp, Hội An mới thấy Huỳnh Văn Chính đã yêu thơ văn từ ngày ấy. Chiến tranh điêu tàn vẫn không làm tan hết mộng mơ:

Thôi thì thôi, thế là thôi

Đời thư sinh đã hết hồi mộng mơ

Chỉ còn đây những câu thơ

Chỉ còn đây những đợi chờ lãng quên.

Huỳnh Văn Chính vẫn một đời mộng mơ, cho dù con đường văn chương với anh chỉ là niềm vui nhỏ. Đọc thơ tình thời trai trẻ của anh, tôi càng hiểu thêm gốc gác của một chàng trai đa tình, lãng mạn: 4 câu thơ viết cho một tà áo trắng bay phía trời mây Cửa Đợi mang đầy thương nhớ tuổi hai mươi:

Ngần xanh xanh ngát không gian

Trắng hoang dã trắng dặm ngàn bờ xa

Mang thương nhớ ngọn phù sa

Cho tôi hóa gió ru tà áo em.

Tôi cũng có một thời đắm say như thế, đọc lại thơ “thời cắp sách” của anh tôi lại nhớ đến mình. Thế nhưng, tâm hồn trong veo, đắm đuối với văn chương lại rẽ sang con đường khác, mà anh vẫn thành công. Anh bảo, có ai muốn rẽ thế đâu, “nếu một cộng với một cho em là hai, nếu đất cộng trời cho em tạo hóa” thì anh đã cộng niềm khát khao của mình để được là mình, dù sống giữa đô-la, giữa cạnh tranh mua bán từng ngày mà lòng anh vẫn đau đáu nhớ quê, yêu từng con đường làng, vẫn ôm ấp từng câu thơ, từng dòng hồi ức về một thời gian khó đã qua. Anh đã “cộng đất trời” để cuối cuộc đời được gần gũi với văn chương, sống lại với mơ ước, những đợi chờ ngỡ đã lãng quên.

Không chỉ thơ trữ tình, Huỳnh Văn Chính còn là một hiện tượng hiếm có về thơ nói lái, một đặc trưng của xứ Quảng. Nhiều người, nhất là giới báo chí văn nghệ đều ít nhiều công nhận tài trào phúng, đối ứng của anh nhanh như điện, thông minh, giàu hình ảnh. Có thể sau này người ta sẽ ít nhớ Huỳnh Văn Chính là một doanh nhân mà thơ vui, nói lái của anh chắc họ sẽ khó quên. Cũng chưa biết đến một ngày nào đó, các nhà nghiên cứu về loại hình văn học này sẽ tìm hiểu và phân tích sâu hơn về thơ nói lái của Huỳnh Văn Chính... Mỗi người đều có số phận riêng, buồn vui nhiều khi chẳng biết tỏ bày cùng ai. Điều lớn lao và đáng quý trọng nhất, đó là cách sống đầy nhân nghĩa của anh với cuộc đời này. Và, tôi vẫn tin rằng có được điều quý giá ấy chính là nhờ ở tình yêu đắm say văn chương của anh, chính từ tâm hồn của một người yêu thơ cháy bỏng.

Nguyễn Ngọc Hạnh

* Thơ Huỳnh Văn Chính