Ngày 2/6 vừa qua, Thủ tướng Tây Ban Nha Mariano Rajoy đã thông báo rằng, vua Juan Carlos ở tuổi 76 sẽ thoái vị, nhường ngôi cho vị thái tử 46 tuổi Felipe. Lý do chính thức của quyết định này là tình trạng sức khỏe không được tốt của nhà vua. Tuy nhiên, nhiều phương tiện truyền thông lại cho rằng, một trong những nguyên nhân căn bản đã buộc vua Juan Carlos rời bỏ ngai vàng là hàng loạt những bê bối mới xảy ra gần đây liên quan tới nhiều nhân vật trong hoàng gia Tây Ban Nha...

Nhân định như thiên

Juan Carlos lên ngôi ngày 22/1/1975, hai ngày sau cái chết của nhà độc tài Francisco Franco, kẻ đã nắm quyền cai trị Tây Ban Nha từ đầu năm 1939, trước cả khi bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ nhất. Những người ác ý khi đó đã đồn rằng, dưới thời trị vì của ông, chế độ quân chủ ở quê hương của Don Kihote sẽ biến mất nhanh chóng cùng với di sản mà nhà độc tài Franco để lại. Thế nhưng, thực tế lại diễn ra theo cách khác. Vua Juan Carlos đã trụ lại được trên ngai vàng tới gần 40 năm và trong suốt thời gian này, đã được dư luận quốc tế đánh giá là một trong những quân vương được ưa chuộng nhất thế giới, dù uy tín của hoàng gia trong con mắt người dân Tây Ban Nha không phải lúc nào cũng là tuyệt hảo...

Một điều cần phải nhấn mạnh là, vua Juan Carlos chính là người được nhà độc tài Franco khi còn sống đã chọn lựa và gây dựng sự nghiệp. Lần đầu tiên Franco nghĩ về việc bảo vệ chế độ do ông ta lập ra một cách khốc liệt là vào năm 1940, khi tưởng như chẳng có gì đe dọa cả ông ta lẫn chế độ đó. Franco đã bất ngờ tuyên bố: “Dù thế nào tôi cũng phải tìm được một người kế vị hoàn toàn nhờ ơn tôi mà lên được, phải giữ nguyên những lý tưởng của ngày 17/7/1936. Nhưng đồng thời, người ấy phải được tất cả nhân dân Tây Ban Nha chấp nhận”. Cũng chính khi đó, ông ta quyết định rằng, lối thoát duy nhất cho đất nước chỉ có thể là chế độ quân chủ cha truyền con nối. Nhưng truyền thống quân chủ tồn tại trong nước Tây Ban Nha đòi hỏi, trong tương lai, ngai vàng sẽ phải thuộc về một ai đó trong số các hậu duệ của ông vua Alfons XIII, bị lật đổ tháng 4/1931 và từ trần trong cảnh lưu vong năm 1941. Vị vua này có ba con trai. Người con cả, Alfons, mất năm 1933 tại Hoa Kỳ. Người thứ hai, Haime, bị câm điếc bẩm sinh và đã chối bỏ bất cứ quyền lợi nào liên quan đến ngai vàng. Chỉ còn lại người con út, Don Juan, công tước xứ Barcelona. Thế nhưng, Franco lại có ác cảm với ông này.

Ngày 19/3/1945, Don Juan, lúc đó đang cư trú tại Thụy Sĩ, đã ra tuyên cáo với đồng bào mình, ngầm kêu gọi phản đối chủ nghĩa Franco. Và công tước xứ Barcelona bằng hành động này đã chặt hết mọi cây cầu dẫn mình tới với ngai vàng. Dầu vậy, tướng Franco vẫn không từ bỏ ý định của mình. Tháng 6/1947 tại Tây Ban Nha đã diễn ra trưng cầu dân ý về thể chế nhà nước tương lai. 14 triệu người Tây Ban Nha ủng hộ nền quân chủ, 722 nghìn chống lại. Ba tuần sau đó, Franco ký sắc lệnh tuyên bố Tây Ban Nha là một vương quốc.

Ngày 28/8/1948, nhà độc tài Franco mời công tước Don Juan lên du thuyền Asor, nơi đã diễn ra cuộc gặp gỡ lịch sử. Franco thông báo rằng, ông ta dự định giữ vị trí nguyên thủ quốc gia. Ông ta cũng ngỏ lời rằng, ông ta không có ý để Don Juan làm vua và muốn cậu con trai 10 tuổi Juan Carlos của công tước trở thành người ngồi trên ngai vàng trị vì vương quốc. Tướng Franco đề nghị đưa Juan Carlos về Madrid để thu nhận những kỹ năng cần thiết chuẩn bị cho tương lai. Don Juan không thể không hiểu rằng ông trao con trai mình vào tay ai. Nhưng vị công tước xứ Barcelona cũng hiểu rằng, nếu ông từ chối đề nghị của Franco, ông có thể không chỉ làm mất vương miện của mình mà của cả hậu duệ nữa, còn Franco sẽ hoàn toàn từ bỏ chế độ quân chủ. Và công tước đã đồng ý. Ngày 9/11 năm đó, cậu bé Juan Carlos đến Madrid và dọn về ở tại biệt thự Las Harilias ở ngoại ô thủ đô...

Tất cả quãng đời tiếp theo của ông vua tương lai đều trôi qua dưới sự kiểm soát chặt chẽ của tướng Franco. Nhà độc tài muốn nhào nặn một hình mẫu hợp khẩu vị của mình. Đồng thời, trong ông ta cũng nảy sinh tình cảm quyến luyến Juan Carlos. Năng lực, những nét tính cách bẩm sinh của chàng trai - khiêm tốn, tế nhị, không ngạo mạn, không bày tỏ lộ liễu tham vọng, tự nhiên, lòng kính trọng bề trên - càng ngày càng khiến Franco tin rằng, ông ta đã chọn đúng người. Vị vua tương lai được mời tới gặp Franco vào ngày 24/11/1948. Họ dẫn chàng trai qua hàng dãy phòng tranh tối tranh sáng. Và bất ngờ, nhà độc tài Franco xuất hiện. “Ông ta thấp hơn ta vẫn tưởng, nếu nhìn ảnh - Juan Carlos sau này nhớ lại - Ông ta hơi béo bụng và ông ta cười, theo tôi, nụ cười đó không được tự nhiên cho lắm”. Nhà độc tài Franco hỏi han chuyện học hành của thái tử. “Nói thẳng thắn, tôi không quá quan tâm đến những gì Franco nói, vì ngay từ đầu tôi đã nhìn thấy một con chuột nhỏ luẩn quất ở dưới ghế mà ông ta ngồi. Đối với một đứa trẻ như tôi, theo dõi con chuột bạo gan đó còn thích hơn nghe những lời dạy dỗ của một quý ông nhã nhặn”...

... Năm 1969, Franco cho rằng, đã tới thời điểm đưa ra quyết định sau cùng. Đầu tháng 7/1969, Juan Carlos muốn về nghỉ hè tại một vùng quê gần Lisbon, thủ đô Bồ Đào Nha, nơi cha mẹ chàng đang cư trú. Trước khi đi, anh lên chào từ biệt tướng Franco.

- Bao giờ cậu định quay trở về ? - ông tướng hỏi.

- Ngày 12 hoặc 13/7, thưa tướng quân, Juan Carlos trả lời. Bất luận thế nào thì tới ngày 1/7 tôi sẽ có mặt ở Madrid và sẽ tham gia vào ngày quốc lễ (đó là ngày kỷ niệm cuộc nổi loạn chống lại chế độ cộng hòa của Franco năm 1936).

- Hãy vào chỗ tôi, khi nào cậu trở lại. Tôi cần nói với cậu một điều quan trọng.

Hết hè, thái tử đến chào Franco. Ông ta tiếp khách với vẻ quan tâm đặc biệt.

- Tôi cần phải nói với cậu, với nụ cười bí hiểm, Franco long trọng nói, ngày 22/7 tôi sẽ tuyên bố cử cậu làm người kế vị tôi với tước vị nhà vua.

Juan Carlos cảm thấy khó xử vì ông tướng bắt chàng phải trả lời ngay.

- Thế nào, cậu định sao? Franco gặng hỏi.

- Tôi đồng ý, thưa tướng quân! Juan Carlos trả lời.

Thế nhưng, công tước xứ Barcelona lại coi đó như một sự phản bội của con trai, điều mà ông đã không thể tha thứ rất lâu sau. Chỉ tới năm 1993, trước khi qua đời không lâu, ông mới công nhận con trai mình là vị vua hợp pháp của Tây Ban Nha.

Xứng niềm tin cậy

Đúng như đã hứa, nhà độc tài Franco ngày 22/7/1969 đã tổ chức lễ tuyên thệ cho Juan Carlos với tư cách người sẽ được kế thừa vị trí nguyên thủ quốc gia trên ngai vàng. Cuộc bỏ phiếu tại quốc hội đã diễn ra không hoàn toàn suôn sẻ. Dẫu đa số quốc hội (419 đại biểu) đồng ý, 19 chống lại và 9 bỏ phiếu trắng, Juan Carlos đã khéo léo khiến tướng Franco tin vào sự trung thành quá khứ của nhà vua tương lai. Ngày 23/7/1969, trong bài phát biểu công khai đầu tiên với cương vị mới, Juan Carlos nhấn mạnh: “Tôi trước hết muốn khẳng định rằng, tôi nhận từ nguyên thủ quốc gia quyền lực chính trị hợp pháp sinh thành từ ngày 17/7/1936”. Ngay cả những phần tử sùng bái Franco cốt cán nhất cũng không thể hoài nghi gì được ông. Tuy nhiên, đức vua tương lai còn nói thêm: “Bản chất cao cả nhất của truyền thống vinh quang của chúng ta luôn luôn được bảo toàn, nhưng không thể để sự sùng bái quá khứ cản trở tiến hóa”. Tướng Franco đã không lưu tâm câu nói này. Và đã sai lầm biết bao...

Phương châm đó đã được thể hiện trong diễn văn lên ngôi ngày 22/11/1975, hai ngày sau khi nhà độc tài Franco qua đời. Vua Juan Carlos không hề đả động gì đến cuộc nội chiến năm 1936. Ông cũng không đả động đến đảng Dân tộc, tổ chức chính trị làm chỗ dựa chính của Franco. Bằng cách đó, ông muốn mọi người hiểu rằng, những trang sử mới của Tây Ban Nha đã bắt đầu. Người dân Tây Ban Nha lần đầu tiên cảm thấy ngọn gió đổi mới này ngày 1/7/1976. Đúng hôm đó, vua Juan Carlos tuyên bố bãi nhiệm nội các của Arias Navarro, một phần tử Franco trung kiên. Nhà vua cử vị chính khách 44 tuổi còn ít người biết đến Adolf Suares Gonsales làm thủ tướng. Đây là một trong những hành động thành công nhất của vua Juan Carlos, quyết định đường đi của Tây Ban Nha trong tương lai. Ông chọn đúng người mà Tây Ban Nha cần. Khó có ai khác đủ sức và tài làm việc mà Gonsales đã làm được: Xóa bỏ tàn dư chủ nghĩa Franco và đặt nền móng cho một nền dân chủ mới ở Tây Ban Nha.

Ngay từ những bước đi ban đầu, nhà vua đã tỏ rõ sự tinh tường và lòng dũng cảm của mình. Ông trực tiếp tham gia vào việc ra lệnh ân xá. Các chính đảng và công đoàn cũng nhờ ông mà được công khai hoạt động. Tính dân chủ của nhà vua, lòng trung thành của ông đối với hiến pháp đã thể hiện cao nhất trong tháng 2/1981, khi số phận nước Tây Ban Nha dân chủ như ngàn cân treo sợi tóc. Ngày 23/2/1981 nổ ra cuộc đảo chính quân sự với sự tham gia của nhiều tướng lĩnh cao cấp. Chỉ có thái độ cứng cỏi của ông vua nắm quyền Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Juan Carlos mới ngăn chặn được một thảm họa. Mặc dù quân đảo chính đã bỏ ra khá nhiều công sức để lôi kéo nhà vua theo mình. Họ cử tướng Afons Amand, người từng là thầy và đang là cố vấn quân sự của nhà vua, đến vận động Juan Carlos. Thế nhưng, nhà vua giữ nguyên thái độ bất hợp tác. Ông gửi tối hậu thư cho quân nổi loạn. Và họ đã đành phải tuân phục ông...

Khi đưa ra thông báo về việc vua Juan Carlos sẽ rời ngôi, Thủ tướng Tây Ban Nha Mariano Rajoy đã nhấn mạnh rằng, nhà vua là “người bảo vệ lợi ích của chúng ta một cách không mệt mỏi”... Một phần tư thế kỷ ngự trên ngai vàng của vua Juan Carlos đã góp phần làm tăng uy tín không chỉ của hoàng gia mà của cả xứ sở đấu bò tót Tây Ban Nha. Ông giản dị, chân thành, không thích xa hoa. Juan Carlos đã từ chối cung điện ở Madrid, mà ở trong một biệt thự giản dị ở ngoại ô. Ông ít khi sử dụng xe Roll-Roys sang trọng dành riêng cho ông. Hoàng gia ít tổ chức những dạ hội xa hoa. Nhà vua chỉ tặng cho người thân của mình những món quà khiêm tốn...

Vua Juan Carlos rất chăm lo tới việc giáo dục con cái. Ông buộc thái tử Felipe phải học hành tới nơi tới chốn. Thái tử cũng đã từng trải qua “trường đại học lớn” là quân đội... Các phương tiện truyền thông nhận xét, dù thái tử Felipe chưa bộc lộ tài năng trị quốc nhưng chàng cũng chưa kề bị dính líu tới vụ tai tiếng tham nhũng nào... Cũng theo báo chí Tây Ban Nha, ông vua mới của Tây Ban Nha cao tới 1,93m, hơn cha mình 2cm...