Ngày 16/1, Bộ Công Thương công bố Chỉ số hợp tác Việt Nam 1995- 2012 đánh giá xu hướng hợp tác giữa Việt Nam với 9 đối tác chiến lược (ASEAN, EU, Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand) trong 5 lĩnh vực hợp tác bao gồm: Thương mại, đầu tư, giáo dục, du lịch và viện trợ ODA.

CôngThương - Dẫn kết quả nghiên cứu, ông Thái Sơn- Phó giám đốc Ban quản lý dự án Nâng cao năng lực quản lý và điều phối về hội nhập kinh tế quốc tế, Văn phòng Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế (Bộ Công Thương)- cho biết, trong quan hệ với 9 đối tác chiến lược giai đoạn 1995- 2012, chỉ số hợp tác với Trung Quốc có mức tăng lớn nhất, tăng 33 lần. Đứng ở vị trí kế tiếp với mức tăng 30 lần là New Zealand, tiếp theo là ASEAN, Nhật Bản, Hoa Kỳ cùng mức 23 lần, Hàn Quốc tăng 17 lần, Australia, Canada tăng 23 lần và cuối cùng EU tăng 8 lần.

Chỉ số hợp tác Việt Nam 1995- 2012 là báo cáo kết quả nghiên cứu thuộc dự án Nâng cao năng lực quản lý và điều phối về hội nhập kinh tế quốc tế được thực hiện bởi Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế và Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công Thương) dưới sự hỗ trợ của Chương trình hỗ trợ kỹ thuật hậu gia nhập WTO và tổ chức AsiaLink.

Theo các chuyên gia, số liệu này không nên đặt lên bàn cân để đánh giá chất lượng hợp tác của Việt Nam với các đối tác mà nên được nhìn nhận trên một quá trình hợp tác phát triển đối với từng quốc gia. Lý giải cho điều này, các chuyên gia đã đưa ra một ví dụ cụ thể: Sở dĩ mức tăng của EU không ấn tượng như những đối tác khác là do xuất phát điểm khá cao của EU với Việt Nam và xét về tổng thể, EU có sự hợp tác toàn diện nhất đối với Việt Nam. Hoặc đối với New Zealand, chỉ số hợp tác có mức gia tăng mạnh mẽ là do quan hệ hợp tác hai nước khởi đầu ở mức thấp. Cho đến 2012, so với các đối tác khác, New Zealand cũng chỉ chiếm vai trò khiêm tốn trong hợp tác với Việt Nam.

Xét về các lĩnh vực hợp tác, thương mại có mức tăng trưởng ấn tượng nhất, trung bình khoảng 17,5%/năm trong suốt giai đoạn 1995- 2012. Tổng kim ngạch thương mại hai chiều của Việt Nam với 9 đối tác chính luôn chiếm phần lớn trong tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam và có xu hướng tăng trong suốt giai đoạn 1995-2012. Cụ thể, nếu như năm 1995, kim ngạch thương mại hai chiều với 9 đối tác chính chiếm 73% thì đến 2012 đã tăng lên 81% tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam. Xét về khu vực thị trường, Việt Nam có thâm hụt thương mại duy nhất với châu Á và thặng dư thương mại với tất cả các châu lục còn lại.

Đánh giá chung về nghiên cứu Chỉ số hợp tác Việt Nam 1995- 2012, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng nhận định: Đây là một tài liệu chuyên môn giá trị, đã thống kê số liệu giữa Việt Nam với một số đối tác quan trọng trên những lĩnh vực hợp tác chính, đồng thời phân tích biến động, nhận định xu hướng và đưa ra những khuyến nghị chính sách bổ ích.

Hoa Lê

PHẢN HỒI