Vừa qua, hàng loạt đề tài, dự án thuộc các chương trình khoa học và công nghệ (KH và CN) trọng điểm cấp nhà nước, quốc gia đã được nghiệm thu thành công, tạo ra những kỹ thuật, sản phẩm có hiệu quả trong thực tiễn. Đáng chú ý, là Chương trình “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến phục vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng” (mã số KC.10/11-15) được các nhà khoa học đánh giá cao và Bộ KH và CN đánh giá là chương trình thành công nhất trong các chương trình trọng điểm cấp nhà nước thời gian qua.

'Coi troi' cho hoat dong nghien cuu khoa hoc - Anh 1

Nhưng đằng sau thành công đó lại là chuyện “muôn thuở” của nhà khoa học: Thay vì chỉ tập trung nghiên cứu khoa học, họ phải bận tâm tìm cách hoàn thành hồ sơ thanh quyết toán, mua chứng từ, hợp lý hóa thu chi sao cho khớp với lúc lập dự toán. Thậm chí, với những dự án đã thực hiện từ trước năm 2015, vẫn phải thực hiện theo phương thức cũ, tức là nhà khoa học phải “sáng tạo” ra các “chuyên đề” theo đúng quy định để có thể lấy được tiền làm nghiên cứu và để có thể quyết toán được. Theo lãnh đạo một đơn vị đã ký hợp đồng thực hiện một dự án với Bộ KH và CN, dự án được thực hiện từ cách đây hai năm, đến nay đã thành công, ra được sản phẩm theo đúng yêu cầu, nhưng vẫn chưa thể lấy được tiền hỗ trợ từ Nhà nước. Toàn bộ kinh phí vẫn do phía đơn vị tự ứng trước để triển khai cho kịp tiến độ. Nếu cứ chờ đợi được phê duyệt và giải ngân từ phía Bộ KH và CN thì có lẽ nhiều năm nữa vẫn chưa thực hiện xong và sản phẩm lúc đó lại lỗi thời, khó có thể thương mại hóa. Bởi vậy, hai thông tư liên tịch (TTLT) số 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN và số 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC giữa Bộ KH và CN và Bộ Tài chính được ban hành, về việc lập dự toán và chấp hành dự toán khi thực hiện đề tài, dự án KH và CN có sử dụng nguồn kinh phí từ Nhà nước, được đánh giá là mang tính đột phá, sẽ nghiệm thu tới sản phẩm cuối cùng. Nhiều nhà khoa học, đơn vị nghiên cứu khấp khởi vui mừng, hy vọng rào cản đã được gỡ bỏ, nhà khoa học có thể tập trung vào việc nghiên cứu, sáng tạo. Thế nhưng, sau một thời gian triển khai, nhiều nhà khoa học cho rằng, việc ra đời hai TTLT kể trên cơ bản vẫn là “bình mới, rượu cũ”. Nhà khoa học khi thực hiện đề tài, dự án thay vì phải “nói dối” thực hiện các “chuyên đề” như ngày trước, sẽ tiếp tục phải “nói dối” những vấn đề khác trong quá trình lập dự toán và chấp hành dự toán. Đáng nói là việc định mức nội dung công việc, xác định người thực hiện, thuyết minh số tiền công thực hiện, nội dung chi vật tư, thiết bị… cũng phải được thẩm định. Việc tính toán trả tiền công lao động sẽ phụ thuộc vào chức danh, mức lương do Nhà nước quy định và nhân với số ngày công. Nhưng lao động trong nghiên cứu KH và CN là lao động đặc thù, khó có thể định lượng để có được định mức chính xác, chỉ là một sự quy ước tương đối, nay phải áp dụng theo công thức để tính công thì chưa hợp lý. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện còn rất nhiều những công việc, những vật tư mà khó có thể thể hiện được trên giấy tờ hay hóa đơn.

Nhiều nhà khoa học cho rằng, để thật sự tháo gỡ những rào cản nói trên, chỉ cần “khoán” việc nghiên cứu, nghiệm thu sản phẩm cuối cùng đúng như “tinh thần” của hai TTLT đã nêu. Đồng thời để bảo đảm tính hiệu quả tiền đầu tư của Nhà nước cho nghiên cứu khoa học, các cơ quan quản lý cần kiểm soát chặt chẽ “đầu vào” trong quá trình xét duyệt dự án và đánh giá chính xác chất lượng “đầu ra” của sản phẩm. Khi đó, nhà khoa học mới được “cởi trói” để toàn tâm nghiên cứu tạo ra những sản phẩm có ích cho xã hội.