Mỗi năm, Việt Nam có thể phải chịu thiệt hại do lũ lụt và động đất lên đến 30,2 nghìn tỷ đồng (1,4 tỷ USD), trong khi dự phòng của Chính phủ ước tính chỉ ở mức 5,9 nghìn tỷ đồng (278 triệu USD). Điều này đòi hỏi Việt Nam phải có các giải pháp tài chính và bảo hiểm rủi ro thiên tai cấp quốc gia.

Co the mat 6,7 ty USD moi nam, Viet Nam can chien luoc tai chinh ve rui ro thien tai - Anh 1

Trong 50 năm tới, có thể phải chịu thiệt hại hơn 6,7 tỷ USD
Sáng 15-11, phát biểu khai mạc tại Hội thảo “Giải pháp tài chính cho rủi ro thiên tai tại Việt Nam”, Thứ trưởng Tài chính Nguyễn Hữu Chí, cho biết Việt Nam chịu nhiều loại hình thiên tai, trong đó bão gây nhiều thiệt hại, bão. Thiệt hại ước tính lên đến 40 nghìn tỷ đồng mỗi năm và số người thiệt mạng do thiên tai đứng 22 trên thế giới.

Ông Nguyễn Hữu Chí khẳng định: “Việc xây dựng giải pháp tài chính mới là cần thiết, trong đó có bảo hiểm rủi ro thiên tai, giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước”.

Việt Nam là quốc gia phải gánh chịu nhiều nguy cơ thiên tai, như bão, lốc, lũ và hạn hán. Ước tính khoảng 60% tổng diện tích đất đai và 71% dân số phải chịu nguy cơ bão và lũ lụt. Hằng năm, tổn thất kinh tế trực tiếp bình quân do bão và lũ lụt ước bằng khoảng 0,77% GDP, đứng thứ ba trong các nước ASEAN. Tài sản của dân cư và khu vực công gồm công sở và cơ sở hạ tầng lần lượt chiếm 65% và 11% tổng thiệt hại.

Trong vòng 50 năm tới, với xác xuất 40%, Việt Nam có thể phải chịu thiệt hại vượt quá 141,2 nghìn tỷ đồng (6,7 tỷ USD) do lũ lụt, bão hoặc động đất. Các tỉnh Bắc trung bộ có tỷ lệ nghèo cao hơn cũng có xu hướng phải đối mặt với thiệt hại cao hơn do bão, lũ.

Cần giải pháp tài chính tránh phụ thuộc ngân sách
Chính phủ hiện có nhiều công cụ tài chính khác nhau để bảo đảm tài chính nhằm ứng phó và khôi phục thiên tai, như dự phòng ngân sách ở trung ương và các địa phương, bố trí lại ngân sách, dự trữ Nhà nước, quỹ dự trữ tài chính, quỹ phòng chống thiên tai, các công cụ chuyển giao rủi ro như bảo hiểm và viện trợ của các nhà tài trợ. Tuy nhiên, các nguồn tài chính hiện có để ứng phó và khôi phục thiên tai rất hạn chế, phụ thuộc nhiều vào ngân sách. Quỹ phòng chống thiên tai ở địa phương được bổ sung nguồn lực nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Các công cụ chuyển giao rủi ro mới như bảo hiểm hiện mới chỉ ở giai đoạn sơ khai. Việt Nam hiện chưa có một chiến lược toàn diện nhằm điều phối và tối ưu hóa các nguồn vốn có thể huy động, đặc biệt ở các cấp địa phương.

Ông Sebastian Eckardt, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng thế giới tại Việt Nam chỉ ra rằng, hạn hán vừa qua đã cho chúng ta thấy kinh nghiệm để định hình cho thời gian tới. Đó là cách tiếp cận chiến lược tài chính về rủi ro thiên tai gắn chặn với chương trình nghị sự về biến đổi khí hậu. Việt Nam cần có chiến lược bảo vệ tài chính với các nguồn vốn công và tư, dự phòng ngân sách, thị trường bảo hiểm thị trường vốn để bảo hiểm … để bảo đảm là chi phí rủi ro thiên tai được quản lý và kênh dẫn vốn kịp thời để giảm thiểu tác động khi thiên tai xảy ra.

Bà Nguyễn Hồng Giang, Đại diện Cục Kinh tế liên bang Thụy Sĩ cho biết, Thụy Sĩ đã hỗ trợ các nước ASEAN đối phó thiên tai, giảm rủi ro thiên tai. Vì thiên tai gây rủi ro cho ngân sách, và đẩy Việt Nam vào phụ thuộc các nguồn tài trợ để khắc phục rủi ro sau thiên tai. Vì vậy cần thiết phải có các biện pháp tài chính và bảo hiểm …
Nông nghiệp, nông thôn là khu vực kinh tế chính, nên thiên tai xảy ra khiến ngân sách địa phương sụt giảm. Vậy phải tìm ra mô hình giúp giảm tác động của rủi ro thiên tai đến ngân sách Nhà nước. Bà Nguyễn Hồng Giang nói: “Chúng tôi muốn Việt Nam có một mô hình phòng chống rủi ro và khung tài khóa hợp lý để chúng tôi thuyết phục được người dân Thụy Sĩ rằng: ODA của Thụy Sĩ tiếp tục đóng góp cho sự phát triển bền vững của VIệt Nam”.

Hội thảo kiến nghị, Việt Nam cần xây dựng chiến lược bảo vệ tài chính cho các phí tổn do thiên tai gây ra. Chiến lược bảo vệ tài chính phải là một phần của Chương trình tổng thể quản lý rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu nói chung. Chiến lược bảo vệ tài chính cần bổ sung các hoạt động đầu tư nhằm phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro thiên tai. Các cơ chế chính sách, pháp luật, thể chế và vận hành quỹ phòng, chống thiên tai cần được rà soát nhằm tăng cường khả năng chống chịu tài chính của các địa phương. Khu vực tư nhân là đối tác thiết yếu có thể đóng góp về vốn, chuyên môn kỹ thuật và các giải pháp sáng tạo để bảo vệ tốt hơn cho chính quyền và xã hội trong đối phó thiên tai.