“Tôi phải đối diện với thử thách lớn nhất cuộc đời năm tôi 60 tuổi (1986)”, Fidel nói trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Mỹ Vanity Fair vào năm 1994. Ý ông muốn nói về sự sụp đổ của Liên Xô, vốn là nước cấp viện trợ cho Cuba trong một thời gian dài.

Co tai chuyen xung dot thanh co hoi, Fidel Castro chien dau den hoi tho cuoi cung - Anh 1

Fidel có khả năng diễn thuyết bậc thầy (ảnh: IBT Times)

Liên Xô sụp đổ cũng đồng nghĩa với việc Cuba mất đi nguồn cung dầu thô và nhà nhập khẩu đường lớn nhất.

Đơn độc, bị cô lập, phải đối mặt với những bất đồng ngày càng tăng trong nội bộ đất nước bắt nguồn từ khó khăn kinh tế, Fidel bị cho là đã đến đường cùng. Những đối tượng Cuba lưu vong ở Miami (Mỹ) bắt đầu rục rịch tìm đường trở về lật đổ chính quyền trong nước.

Tiếp tục chiến đấu

Nhưng Fidel, trái với những đồn đoán, tiếp tục chiến đấu. Theo New York Times, ông chọn một vũ khí ít ai ngờ nhất: đồng dollar Mỹ vốn bị ghét bỏ. Mùa hè năm 1993, ông ban bố sắc lệnh cho phép người Cuba được nắm giữ dollar Mỹ do khách du lịch nước ngoài mang tới hoặc do người thân từ nước ngoài gửi về.

Fidel cũng sẵn sàng thử nghiệm cơ chế vận hành của xã hội tư bản và các công ty tư nhân, ít nhất là trong một thời gian nhất định. Được em trai Raul khuyến khích, ông cho phép nông dân bán ra các sản phẩm dư thừa với giá thị trường, cho phép dù không chính thức các cơ sở chế biến thức ăn nhỏ, các nhà hàng áp dụng giá cả của thị trường tự do.

Fidel cũng rất chú trọng phát triển ngành du lịch Cuba. Ông cho phép các công ty Tây Ban Nha, Ý Canada xây dựng resort, khách sạn và các loại hình nghỉ dưỡng khác trên đất Cuba. Trong nhiều năm, các resort không tiếp đón người Cuba. Trong một thời gian, các nhà đầu tư Mexico và Canada đã đổ tiền vào công ty điện thoại quốc gia, vào lĩnh vực khai thác mỏ và các loại hình xí nghiệp khác. Việc này giúp nền kinh tế Cuba tránh bị sụp đổ.

Nhưng những điều đó dường như vẫn chưa đủ. Cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn. Năm 1994, lần đầu tiên, người dân đổ xuống đường phố Havana bày tỏ sự tức giận. Fidel phải lên tiếng kêu gọi người dân bình tĩnh. Rồi sự kiện 1996 xảy ra. Một nhóm người ở Florida (Mỹ) đã lái ba chiếc máy bay bay thẳng về phía bờ biển Cuba. Hai chiếc bị không quân Cuba bắn hạ. Bốn người trên máy bay thiệt mạng. Fidel tố cáo Mỹ đứng đằng sau vụ việc.

Cho đến thời điểm đó, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã có những bước âm thầm nhưng vững chắc tiến tới việc nới lỏng cấm vận của Mỹ đối với Cuba, cải thiện quan hệ giữa hai nước trong một số lĩnh vực. Nhưng với vụ bắn máy bay, và trước phản ứng giận dữ của người Mỹ gốc Cuba ở Florida, bang bầu cử quan trọng đối với ông Clinton trước kỳ bầu cử nhiệm kỳ hai, Tổng thống Mỹ đã phải miễn cưỡng ký thông qua dự luật Helms-Burton, cho phép Mỹ trừng phạt các công ty nước ngoài sử dụng tài sản Mỹ bị thu giữ ở Cuba.

Những cảnh báo đầu tiên của chính quyền Mỹ trong khuôn khổ luật này đã được chuyển tới một công ty của Canada đang khai thác một mỏ nickel lớn, và một nhóm đầu tư Mexico đã mua lại công ty điện thoại Cuba. Mặc dù các đồng minh của Mỹ lên tiếng phản đối, Mỹ vẫn duy trì luật Helms-Burton như một vũ khí chống Fidel, cho dù báo New York Times nói các điều khoản của luật này chưa bao giờ được thực hiện.

Biến thách thức thành cơ hội

Năm 1998, Giáo hoàng John Paul II tới Cuba, hội đàm với Fidel. Người ta dự đoán cuộc đối thoại giữa người đứng đầu Giáo hội Thiên chúa giáo vốn có tiếng chống cộng với lãnh tụ cộng sản Cuba sẽ rất khó khăn. Trong buổi gặp ấy, thay vì quân phục như thường lệ, Fidel mặc một bộ vest tối màu. Giáo hoàng nói về quyền con người và sự thiếu hụt những quyền tự do cơ bản ở Cuba. Nhưng ông cũng gọi các lệnh cấm vận của Washington là “không công bằng và không chấp nhận được về mặt đạo đức”. Fidel coi đây là một chiến thắng chính trị.

Co tai chuyen xung dot thanh co hoi, Fidel Castro chien dau den hoi tho cuoi cung - Anh 2

Năm 1998, Fidel có cuộc gặp lịch sử với Giáo hoàng John Paul II (ảnh: BBC)

Năm sau đó, một lần nữa tài chuyển xung đột thành cơ hội của Fidel lại được dịp thể hiện. Vụ này đã khiến giới chức Mỹ tức điên. Một phụ nữ trẻ cùng đứa con trai 5 tuổi tham gia cùng một số người Cuba khác vượt biển trên một con thuyền bằng nhôm dài 5m, hướng tới Florida. Chiếc thuyền bị lật và người phụ nữ thiệt mạng, nhưng đứa con, cậu bé Elían González, sống sót sau hai ngày trôi dạt và được lực lượng tuần duyên Mỹ cứu, đưa đến Miami, nơi cậu có họ hàng.

Sau đó, họ hàng cậu đã từ chối khi người cha, vẫn ở Cuba yêu cầu trả con. Fidel đã lên tiếng phản đối, gọi cậu bé là một biểu tượng nữa về sự áp bức của Mỹ. Sau nhiều tháng, các đặc vụ Mỹ phải tước cậu bé từ họ hàng ở Miami và trả cậu về cho cha ruột ở Cuba, nơi cậu được Fidel đích thân đón chào.

Nhưng vụ cậu bé Gonzalez cũng phần nào có sự tương đồng với những gì đã xảy ra với con trai lớn của Fidel là Fidelito nên ngoài các mục đích chính trị, có thể nói hành động của Fidel cũng xuất phát từ những suy nghĩ của một người cha.

Fidelito, sau khi bị mẹ thuê người bắt đi từ tay các chị em gái của Fidel khi họ dạo chơi trong một công viên ở Mexico đầu thập niên 1950, đã được đưa đến New York. Nhưng khi Fidel đã lên nắm quyền ở Cuba, ông đã thuyết phục vợ cũ trả con trai về cho ông. Fidelito sau này được cho sang Liên Xô học tập, trở thành nhà vật lý, kết hôn với một cô gái Nga.

Khi Tổng thống Mỹ Barack Obama và lãnh đạo đương nhiệm Cuba, Raul Castro cùng lên truyền hình thông báo về việc trao đổi tù nhân và bước đi đầu tiên bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, cả người Cuba lẫn người Mỹ đều ngóng trông những lời nói của Fidel. Ông chấp nhận hay lên án động thái của hai chính quyền?

Sáu tuần sau sự kiện, xuất hiện một bức được thông báo là của Fidel về hành động của người em trai trong việc tiến tới gần người Mỹ: “Tôi không tin chính trị Mỹ, tôi cũng không trao đổi dù chỉ một từ với giới cầm quyền Mỹ, nhưng đó không phải, dù là bất cứ hình thức nào, là sự phản đối của tôi đối với một giải pháp hòa bình cho các cuộc xung đột”, thư viết.

Fidel nói ông ủng hộ bất cứ nỗ lực hòa bình nào giải quyết các bất đồng giữa hai nước. “Các mối nguy chết người đang đe dọa nhân loại ngày nay phải nhường đường cho các quy chuẩn phù hợp với phẩm giá của con người”, bức thư viết. “Không quốc gia nào đứng ngoài các quyền ấy. Với tinh thần ấy, tôi đã chiến đấu, và sẽ tiếp tục chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng”.