Cuộc đời của những người như cha tôi trôi đi trong bình lặng, có cái gì đó mang vẻ nhẫn nhục khó nói thành lời. Những người như thế nay không còn nữa và dù mất ở nơi xứ người thì có lẽ anh tôi là người cuối cùng của thế hệ đó. Tôi biết họ ra đi với nỗi niềm riêng không sao biết được, song có một điều chắc chắn là họ đã đóng góp một phần cuộc đời với xứ sở này và không nên quên họ.

Co nhung noi niem khong sao biet duoc! - Anh 1

(Minh họa: Jessica).

Hôm mới rồi, buổi tối trời nóng bức, người khó chịu mà lại cứ thảng thốt, nằm mãi không ngủ được, tôi ra ngồi bên cửa sổ hút thuốc vặt. Bỗng giật mình vì chuông điện thoại bàn réo vang. Nửa đêm có điện thoại bàn thường là việc rất đột xuất. Cầm máy lên, dù nghe tiếng phụ nữ nơi nào đó xa xăm tôi vẫn nhận ra tiếng của người chị dâu đang sinh sống ở Troyes - một thành phố nhỏ cách Paris gần 200 cây số. Giọng nghẹn ngào, chị thông báo chồng chị vừa qua đời, và nói: “Tôi gọi điện báo ngay cho chú biết. Cảm ơn chú rất nhiều”, rồi chị gác máy. Nghe chị nói, dù biết anh đã 95 tuổi mà tôi vẫn bàng hoàng, lại ngồi hút thuốc vặt và ngẫm nghĩ không biết tại sao chị lại cảm ơn tôi?

Mẹ anh là chị gái của cha tôi. Từ nhỏ tôi thấy trong nhà thì thào anh đang sống ở miền nam. Thi thoảng cha tôi nhắc đến anh như một niềm tự hào, như là một tấm gương để chúng tôi học tập, vì anh là tiến sĩ đầu tiên và duy nhất trong dòng họ. Sau ngày đất nước thống nhất, từ đơn vị qua nhà tôi lại nghe cha mẹ thì thào anh đang “học tập” cách Hà Nội mấy trăm cây số. Về sau nghe tin gia đình anh đã định cư ở nước ngoài. Bẵng đi mấy chục năm, cha mẹ tôi đã mất, đôi lần nghĩ đến anh, tôi đoán chắc anh cũng không còn. Vào tiết Thanh minh mấy năm trước, tôi lên Thanh Tước thắp hương mộ ông nội. Nhìn mộ bác rể - tức cha của anh, bên mộ ông nội, tôi sực nghĩ thử tìm anh xem sao. Về nhà, cha con tôi tìm trên internet, thấy một địa chỉ ở Pháp có tên anh. Hồi đó con gái thứ hai của tôi đang học tại Bỉ, tôi bảo cháu thử tìm. Không ngờ cháu tìm được, đến ngày nghỉ cháu lập tức sang thăm bác. Có số điện thoại, tôi liên lạc với anh. Khi tôi sinh ra, anh đã vào miền nam nên không biết về tôi, nhưng qua cách anh nói chuyện, tôi biết anh mừng lắm.

Năm sau sang Bỉ với con, tôi ghé thăm anh. Nghĩ anh xa quê hương đã lâu tôi mua quà với bánh cốm và bánh su sê Nguyên Ninh, cốm tươi, giò gà, đem cả cua đồng xay sẵn, quả dọc, hành phi, rau thơm,… Nhà anh chị ở một khu chung cư. Tôi bấm chuông tầng 1, chị dâu xuống đón. Thang máy vừa mở đã thấy anh chờ sẵn. Thì ra mấy năm rồi mắt anh không nhìn được nữa, nhưng anh vẫn lần tường ra đón em. Anh em ôm nhau, nước mắt rưng rưng, không nói nên lời. Tôi định dìu anh vào nhà, anh kiên quyết không cho, tự mình lần tường đi. Chị bảo mấy năm nay anh không ra khỏi cửa, nhưng hôm đó anh lần tường ra chỗ thang máy đứng chờ em. Nghe mà nghẹn lòng. Nhìn mấy món quà, chị tôi hỏi: “Hàng Nguyên Ninh vẫn còn à chú?”, đến khi nấu riêu cua, thấy mùi thơm, anh bảo: “Canh riêu cua nhưng thiếu đậu phụ mắm tôm chú ạ!”. Anh chị đã già, không ăn được nhiều, mỗi thứ chỉ nếm một tý, nhưng tôi biết anh chị tôi vui lắm.

Từ khi đôi mắt không còn nhìn được, hằng ngày nếu không trò chuyện với chị thì anh làm bạn với chiếc radio nhỏ để đầu giường, anh nghe bằng bốn tiếng Việt - Pháp - Anh - Hoa. Con cái lấy vợ lấy chồng ở riêng, căn hộ rộng rãi chỉ có anh chị. Vì thế chị cũng buồn. Chiếc TV, cây đàn Piano đều phủ vải. Ngày trước chị là nghệ sĩ Piano nổi tiếng ở Hà Nội, giờ chị không chơi đàn nữa. Hằng ngày ngoài việc chợ búa, cơm nước, dọn dẹp, trò chuyện với anh thì niềm vui của chị là tủ CD, VCD và giá sách tiếng Việt xếp đầy.

Không nhìn được nhưng anh chỉ nhờ chị giúp các việc anh không thể tự làm còn anh thì làm lấy, từ đánh răng rửa mặt, thay quần áo tới tắm táp, ăn uống. Nhìn anh đến bữa ăn là lại lần tường đến đúng chỗ ngồi của mình là tôi biết anh chủ động với bản thân ra sao. Năm sau đi công tác, tôi lại thăm anh chị. Lần nào cũng vậy, dù trò chuyện qua điện thoại hoặc anh em ngồi tâm sự với nhau là ký ức của anh lại ùa về. Mà cũng lạ, tuổi ngoài 90 mà giọng nói của anh tôi vẫn sang sảng, trí óc vẫn rất minh mẫn, nhiều chuyện anh nhớ đến chi tiết. Có sự kiện anh nhắc vài ba lần, tôi nghĩ đó vừa là chuyện của người già, vừa là nỗi niềm từ lâu anh không thể nói với ai. Chắp nối những điều anh tâm sự, tôi hiểu cuộc đời anh đã qua nhiều thăng trầm.

Cha anh mất sớm, nên từ bé anh gắn bó với bên ngoại. Mẹ anh buôn bán cũng được nên có điều kiện để anh học hành. Học xong trường Y ở Hà Nội, anh lại muốn học luật, thế là anh vào trường Luật. Năm 1945, đang học trường Luật thì cách mạng thành công, anh theo cách mạng rồi lên Việt Bắc. Ở Việt Bắc anh làm trong ngành Y và là một trong những người đã tham gia bào chế thành công Morphine làm thuốc giảm đau cho thương binh. Đúng lúc đó anh bị bệnh gan, trên chiến khu không chữa được, đơn vị cử người đưa anh về Hà Nội để chữa trị. Trên đường gặp trận càn của Pháp, người đi cùng sợ quá bỏ về, anh nằm chơ vơ bên đường (Anh bảo sau năm 1975, gặp một số bạn bè ở chiến khu ngày trước, họ bảo tưởng anh hy sinh, nên đơn vị đã làm lễ truy điệu. Anh còn kể trong cuốn lịch sử Y tế Việt Nam, có ghi tên anh cùng những người đã điều chế thành công Morphine trên chiến khu, tôi chưa có dịp kiểm chứng điều này). May anh được bà con trong làng gần đó phát hiện, đưa về cho ăn uống, chữa trị thuốc nam. Sau anh lên Yên Bái, tìm đến nơi gia đình tôi tản cư. Được mợ và các em chăm sóc, một thời gian thì anh khỏe. Anh xin phép mẹ tôi về Hà Nội tìm mẹ. Về Hà Nội, anh học tiếp trường Luật. Bác tôi theo con gái vào nam, nên sau khi tốt nghiệp trường Luật, anh vào nam lập nghiệp. Sau anh thi và trúng tuyển làm tiến sĩ về hối đoái ở Pháp.

Anh về nước thì đất nước bị chia cắt, anh làm việc trong ngành ngân hàng. Anh bảo có lúc chính quyền miền nam đã mời anh ra làm Giám đốc Ngân hàng nhưng bác tôi bảo: “Không được làm chính trị!” nên anh từ chối. Sau năm 1975 anh đi học tập. Qua anh kể tôi mới biết mấy năm anh đi học tập, chị vẫn từ miền nam ra tiếp tế cho anh, nhà tôi là điểm tập kết để mẹ tôi cùng chị tới thăm nom anh. Học tập xong anh về nam làm việc, vài năm sau anh đưa gia đình anh sang Pháp định cư. Ở Pháp, anh đi làm một thời gian thì nghỉ với lương hưu 1.200 Euro, trừ tiền thuê nhà dành cho người về hưu hơn 400 Euro, anh chị sống tằn tiện với số tiền còn lại.

Ngày trước, anh vẫn liên lạc với cha mẹ tôi (Phải chăng vì thế nên cha tôi biết anh là tiến sĩ?). Khi cha mẹ tôi mất thì liên lạc đứt đoạn. Anh bảo năm 2000 anh về nước, tìm đến phố Ấu Triệu thì họ hàng không còn ai, không biết các em ở đâu. Anh đứng ở Bờ Hồ nhớ hồi trẻ, khóc thầm một mình rồi buồn bã trở về Pháp. Nghe anh kể những ngày ở chiến khu, tôi biết đó là điều đã nhiều năm anh giấu trong lòng, không thể kể với ai. Phải chăng tâm sự với tôi, anh có niềm vui được giãi bày lòng mình, khiến lúc gọi điện báo tin anh mất, chị lại cảm ơn tôi? Tôi không thể biết sau bao nhiêu thăng trầm cuộc đời, anh đã nghĩ gì, nhưng tôi biết anh thuộc thế hệ hơn nửa thế kỷ trước đã đặt tất cả sang một bên, chọn con đường theo cách mạng.

Cha tôi cũng vậy, ông phải làm một cuộc cách mạng với chính mình để từ “ông ký hỏa xa” trở thành anh bộ đội Cụ Hồ, từ trai Hà Thành thành một người lính. Ngày cha còn sống, có lần tôi tò mò hỏi những năm tháng kháng chiến gian khổ như thế, ông có bao giờ nghĩ đến chuyện “dinh tê” (xuất xứ từ chữ “renter” nghĩa là “trở vào”)? Ông trầm ngâm rồi bảo lúc vất vả quá lại thất lạc vợ con, ông có ý định “dinh tê”. Nhưng một lần đi công tác, leo núi vượt đèo giữa trời nóng bức, ông cùng hai chú “gác đờ co” (garde corps: cận vệ) bảo nhau gặp suối là phải tắm. (Hồi ấy cha tôi là quản lý của Cục Công binh - nay là Bộ tư lệnh Công binh, ông quản lý rất nhiều tiền, đi đâu phải có bộ đội đi cùng để bảo vệ). Qua một cây cầu treo, ngó xuống suối có mấy người bì bõm, cha tôi và anh em xuống luôn. Gần đến nơi, thấy một anh bộ đội đứng gác, dưới suối là Cụ Hồ và một anh nữa đang tắm. Ngại quá, cha tôi và hai chú định chuồn, thì Cụ Hồ gọi quay lại. Lúc tắm cùng, Cụ Hồ hỏi công việc của mấy em, hỏi thăm gia đình, rồi động viên cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Cha tôi bảo, nhìn Cụ Hồ già yếu và gày gò, ông nghĩ mình còn trẻ sao có thể bỏ về. Từ đó, ông tiếp tục theo kháng chiến, không nghĩ đến chuyện “dinh tê” nữa.

Sau kháng chiến, cha tôi là viên chức ở một tỉnh miền núi, năm về Hà Nội đôi lần. Lần nào về ông cũng đến thăm bạn bè cũ và cho tôi đi theo. Bạn bè ông đều là viên chức thời Pháp thuộc, người đi kháng chiến trở về, người từng “dinh tê”, người ở lại thành phố để sau năm 1954 thành “viên chức lưu dung”… Là ai thì ngày đó cuộc sống đều vất vả, lạ một điều là tôi chưa thấy các bác các chú ta thán hay chán nản, chỉ đôi lần tôi thấy giọng nói có điều gì đó đượm buồn, như đôi lần tôi nghe cha tôi phàn nàn với mẹ tôi ở cơ quan như thiếu tin cậy, vì coi ông là tiểu tư sản.

Cuộc đời của những người như cha tôi trôi đi trong bình lặng, có cái gì đó mang vẻ nhẫn nhục khó nói thành lời. Những người như thế nay không còn nữa và dù mất ở nơi xứ người thì có lẽ anh tôi là người cuối cùng của thế hệ đó. Tôi biết họ ra đi với nỗi niềm riêng không sao biết được, song có một điều chắc chắn là họ đã đóng góp một phần cuộc đời với xứ sở này và không nên quên họ. Tối qua tôi gọi điện với chị dâu, được tin chị bị ốm mà không biết làm thế nào chỉ biết an ủi, động viên. Nghĩ căn nhà rộng rãi giờ vắng bóng anh, mình chị lủi thủi ra vào ở nơi xứ người mà thương chị. Lại nghĩ phải cố gắng tích cóp để sớm có chuyến thăm sang thăm, vì chị tôi năm nay cũng đã 86 tuổi rồi.

NH - 9/2016
Nguyễn Hòa