Lại thêm một cô dâu Việt bị sát hại tại Hàn Quốc, theo thói quen mà chúng ta thường nói, thì lần này sự không may gọi tên Phạm Thị Loan. Kẻ thủ ác, chính là người đàn ông lặn lội từ xứ sở kim chi sang Cần Thơ (quê hương của chị Loan) để mang chị ra khỏi làng quê.

Đã là lần thứ bao nhiêu dư luận ngong ngóng về nỗi đau của những cô thôn nữ Tây Nam Bộ. Hẳn là, tôi lẫn bạn đọc đều không thể nhớ.

Cứ như câu chuyện dài được lặp đi lặp lại, tặc lưỡi "Lại có thêm cô dâu bị sát hại"… lại đau đớn, lại bi phẫn, lại khóc thương và tiếc rằng mọi thứ lại nhanh chóng trôi vào lãng quên.

Ngày về tang thương

Chị là con thứ tư trong gia đình có 8 anh chị em, 7 người anh chị em khác của chị đều yên bề gia thất, chỉ còn chị là lận đận chồng con.

Hồi còn ở Việt Nam, chị làm quản lý một tiệm uốn tóc tại quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ. Gái quê được tính theo kiểu ba nhân bảy hai mươi mốt ngày, mà chị tính đến đầu năm 2011 cũng đã 37 tuổi, cái tuổi quá lứa lỡ thì.

Cha mẹ chị nghèo, cứ đau đáu cái ngày chị mặc áo cô dâu để họ an tâm trước khi nhắm mắt. Chị an ủi cha mẹ hoài, chị nói, con có cô bạn hứa sẽ làm mai cho con ông chồng người Hàn Quốc, cha mẹ cứ yên tâm.

Giữa năm 2011, bạn của chị dẫn đến nhà chị một người đàn ông Hàn Quốc. Chị lớn tuổi, người đàn ông Hàn Quốc cũng không trẻ trung, nên xá gì chuyện bất đồng ngôn ngữ, dị biệt văn hóa. Tình thiệt, thì người đàn ông Hàn Quốc ấy nhìn tướng tá cũng phong độ. Không giống những ông chồng ngồi xe lăn, miệng nhai trầu, nói cười nghễnh ngãng.

Biết nhau tuần trước, thì hai tuần sau gia đình chị lục tục làm tiệc cưới cho chị và người đàn ông Hàn Quốc thành chồng thành vợ. Đám cưới đơn giản thôi, vì theo như cha chị kể thì người đàn ông Hàn Quốc có đưa cho gia đình chị 10 triệu đồng và biếu riêng ông 100USD.

Số tiền mà người đàn ông Hàn Quốc này bỏ ra để có được chị, gia đình chị nghe phong thanh là khoảng 15 nghìn USD, nhưng đã bị đám cò hôn nhân ăn chặn bớt.

Trong 10 triệu lo đám cưới ấy, nội tiền mua sắm nữ trang cho chị đã hết 6 triệu. Mấy anh chị em trong nhà phải hùn tiền thêm để cỗ bàn tươm tất mừng chị vu quy. Lúc này, họ biết người làm chồng của chị có tên là Eom Yang Ock (SN 1963). Ngoài ra, họ không biết gì khác.

Sau đám cưới, chị cùng chồng về Hàn Quốc, cư ngụ tại hạt Jeongseon, tỉnh Gangwon. Trước khi lên máy bay xuất ngoại, chị còn dặn cha mình: "Cha lớn tuổi rồi, đừng đi làm nhiều nữa, ảnh hưởng sức khỏe. Sang bên đó, con sẽ dành dụm để gửi tiền về nuôi cha".

Ở Hàn Quốc, thi thoảng chị có gọi điện thoại về hỏi thăm gia đình. Lần nào, chị cũng nói những tín hiệu vui, về sự yêu thương của chồng, về căn nhà mới sắp sửa mua để vợ chồng ra riêng…

Khi con gái đang sinh sống tại một đất nước mà thi thoảng vẫn khiến dư luận Việt bàng hoàng về các vụ chồng bản xứ sát hại cô dâu Việt, thì những niềm vui như chị nói trong điện thoại khiến gia đình chị cảm thấy an tâm ít nhiều.

Vậy mà, bất trắc đã tìm đến chị.

Sáng ngày 7/3/2012, gia đình chị nhận được tin chị đã bị chồng sát hại vào chiều 6/3. Họ nước mắt dài ngắn vội vã đến Tổng lãnh sự quán Hàn Quốc tại TP HCM để xác minh thông tin, và đau lòng thay, những người có trách nhiệm ở tòa Tổng lãnh sự đã xác tín đây là thông tin chính xác.

Chị bị chồng sát hại bằng cách dùng tay bóp cổ chị cho đến chết. Sau đó, chồng chị tự sát. Chị đã không bao giờ có thể trở về thăm cha, thăm anh chị em bằng hình hài nguyên vẹn được nữa.

Đến lúc này, các nhà chức trách của Hàn Quốc mới vội vã loan báo, chồng chị có khả năng bị trầm cảm. Họ cũng vội vàng quyên góp, giúp đỡ gia đình chị.

Chị Thanh Trúc và gã chồng Đài Loan trong ngày cưới.

Theo quan sát của chúng tôi, thì hầu như tất cả các động thái từ phía Hàn Quốc hoặc Đài Loan, mỗi khi cô dâu Việt bị sát hại bao giờ cũng diễn ra hớt ha hớt hải. Động thái của họ có thể khiến dư luận tại Việt Nam có thiện cảm, người thân của người bị hại cảm thấy được an ủi… Thế nhưng, tiếc rằng đó là những động thái thụ động, động thái khi việc đã rồi.

Trước Tết Nguyên đán vừa qua vài tuần, cô dâu Việt tên Nguyễn Thị Thanh Trúc (SN 1982) ở huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh cũng đã bị chồng sát hại bằng thủ đoạn siết cổ cho đến chết ở Đài Loan.

Chuyện của chị Trúc là một chuỗi bi kịch kéo dài.

Lại nghèo, nên cha mẹ chị mưu sinh trên cái ghe nhỏ, lang thang nay đây mai đó. Bên trên chiếc ghe là nơi sinh hoạt của 6 người, bao gồm cha mẹ và 4 anh chị em của chị. Mẹ chị kiếm thêm bằng cách hái dừa thuê cho chủ vườn. Có lần, đang mang thai, mẹ chị vẫn phải leo dừa, không may ngã nên bị sẩy thai.

13 tuổi, chị đã lần mò lên Sài Gòn, đi làm mướn cho chủ. Làm được ít lâu, người quen giới thiệu chị vào làm trong một công ty may mặc. Tại đây, cũng thông qua người quen, chị gặp gã đàn ông Đài Loan ấy.

Như những cuộc hôn nhân chóng vánh giữa cô dâu Việt và chồng Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore khác… chị theo chồng về Đài Loan sinh sống.

Gã đàn ông kia chào đón chị đến Đài Loan bằng những trận đòn thừa sống thiếu chết, bằng những màn tra tấn từ tinh thần đến thể xác trong phòng ngủ. Cùng đường, chị xin ly thân. Lúc đó, chị và gã đã có hai người con chung.

Chị gọi điện thoại về Việt Nam lần cuối cùng là vào tháng 12/2011, chị thông báo cho cha mẹ mình tin vui rằng Tòa án đã đồng ý cho chị và gã chồng Đài Loan ly thân. Chị mới mua được cái xe gắn máy, trước khi về lại Việt Nam ở hẳn, chị sẽ cố gắng làm việc để tích lũy thêm. Bởi chị biết, gia cảnh ở quê khốn khó lắm, chị cũng hiểu căn nhà thiếu trước hụt sau được dựng trên nền đất của người hàng xóm tốt bụng cho ở tạm không đủ sức che nắng mưa; chị cũng hiểu cha chị từ ngày bỏ ghe lên bờ ở thì di chứng sông nước khiến một chân của cha cứ bị teo dần đi, chị thừa biết mẹ chị đang lâm trọng bệnh… Cả một gia cảnh nát mem đang đợi chị về.

Thế nhưng, chị đã không thể trở về được nữa. Trên đường từ tòa án về đến nhà, gã đàn ông từng là chồng chị đã siết cổ chị cho đến chết. Sau đó, gã giấu xác chị trong xe hơi, để rồi rạng sáng hôm sau, gã quẳng thi thể chị xuống biển với một bao tải đựng đầy đá được cột chặt vào cổ chị.

Mẹ chị, em chị… ngập ngụa nước mắt ôm di ảnh của chị vào lòng, đến các cơ quan truyền thông ở TP HCM nhờ lên tiếng giúp.

Cha chị, khóc nghẹn van xin cho hai đứa cháu ngoại của ông được hồi hương, để ông cháu có rau ăn rau, cháo ăn cháo. Con gái ông chết rồi, ông muốn được ở gần cháu ngoại mình.

Các cơ quan chức năng của Đài Loan đã giúp mẹ và chị của chị sang Đài Loan, nhận tro cốt của chị mang về Việt Nam hương khói.

Gia cảnh của chị Trúc tại Việt Nam. Ảnh: NLD Onlne.

Ám ảnh hôn nhân xuyên quốc gia

Năm trước, tôi có làm cuộc trao đổi với Phó giáo sư - Tiến sĩ (PGS - TS) Phan An, một trong những nhà nghiên cứu xã hội học hiếm hoi am tường những cuộc hôn nhân giữa cô dâu Việt và các ông chồng Đài Loan hoặc Hàn Quốc.

PGS - TS Phan An có nói nguyên văn rằng: "Văn hóa giữa Việt Nam so với Đài Loan hoặc Hàn Quốc vẫn có nét tương đồng, nhưng cũng có nhiều dị biệt về ứng xử trong cuộc sống, ứng xử trong gia đình. Cô dâu Việt khi sang đây, dễ cảm thấy lạc lõng trong những dị biệt văn hóa này. Bên cạnh đó, đàn ông Hàn Quốc có vẻ như nóng nảy hơn, gia trưởng hơn… so với đàn ông ở các nước khác. Họ muốn biến người vợ thành nô lệ của mình, không chỉ là nô lệ tình dục mà còn nhiều vấn đề khác.

Đặc biệt là đối với những người vợ đến từ Việt Nam, ngay từ ban đầu, họ đã có quan niệm đây là những người vợ họ bỏ tiền ra mua về. Khi mà người vợ đã chịu quan niệm "Tôi bỏ tiền ra mua cô về, tôi có quyền", thì rất nguy hiểm. Bởi họ đã mua, tức là họ có quyền sử dụng theo mục đích của mình.

Theo nghiên cứu của tôi, thì hơn 95% những cô gái Việt lấy chồng Hàn Quốc hoặc Đài Loan, chủ yếu là để cải thiện kinh tế chứ không phải xuất phát từ tình yêu. Chính bản thân họ cũng mặc cảm về những cuộc hôn nhân này. Và bi kịch xuất phát từ đây.

Cũng nên biết rằng, những người đàn ông Hàn Quốc hoặc Đài Loan lấy vợ Việt Nam đa phần đều là những người có trình độ dân trí hạn chế. Và ngay cả những cô dâu Việt lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc thì trình độ học vấn của họ cũng thấp.

Có những cô dâu Việt ở Đài Loan hoặc Hàn Quốc khi tiếp xúc với tôi, họ hoàn toàn không biết gì về đất nước họ đang sinh sống. Họ chỉ biết, sang đây để hy vọng có thể kiếm được tiền gửi về phụ giúp gia đình".

Thôn nữ miền Tây được học hành hạn chế, họ chỉ có hai lựa chọn (Ít ra, họ khiến tôi có cảm giác như vậy - PV) là lên TP HCM làm công nhân, phụ bán quán cà phê hay gì gì đó hoặc chấp nhận lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… để hy vọng vào sự thay đổi cuộc sống.

Như trong một ván bài xì phé, họ không đoán được con bài tẩy của đối phương như thế nào, nhưng họ sẵn sàng "tố" hết số vốn mình đã có được vào canh bạc ấy. Vốn của họ là thân thể, là mạng sống, là số phận…

Và các nhà chức trách của chúng ta, thụ động một cách gần như là quan liêu trong việc bảo vệ họ. Không giữ họ ở lại với đồng ruộng, không cho họ được một nhận thức, không giúp họ có một cái nhìn toàn cảnh… Vô hình trung, các nhà chức trách đẩy họ gần hơn về phía bi kịch, mà đáng ra, các nhà chức trách phải đủ sức để bảo vệ họ trước điều xui rủi ấy.

Những hợp đồng ma quỷ, những đồng tiền ăn chặn của các cô dâu Việt bị phanh phui tại Sở Tư pháp Cần Thơ còn cho thấy sự tiếp tay có chủ ý của các nhà chức trách sở tại trong các cuộc hôn nhân giữa cô dâu Việt và chồng ngoại quốc.

Ai dám chắc rằng, trong số tiền mà những người có trách nhiệm thậm thụt nhận của đám cò người để đưa một thôn nữ rời đồng ruộng, sang Hàn Quốc, Đài Loan… làm vợ, làm mẹ, làm công cụ tình dục... không ẩn chứa những rủi ro cho sinh mạng của các thôn nữ Việt.

Khi thôn nữ nghèo, khi thôn nữ bật khóc chứng kiến sự thiếu thốn của gia đình mình, họ dễ dàng ra đi với suy nghĩ "Hy sinh thân mình để cha mẹ, anh chị, em được nhờ". Nhưng họ không biết rằng, đôi lúc sự hy sinh để lại những tang thương, những gánh nặng không gì có thể cân bằng được.

PGS - TS Phan An đã nói rằng: "Những cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan hữu trách của chúng ta cần phải có những động thái quyết liệt hơn nhằm giúp đỡ họ trong việc hội nhập với xã hội của nước sở tại. Kế đến là cảnh báo những nguy cơ xấu có thể xảy ra với các cô dâu Việt. Mặc dù ở các nước sở tại, họ cũng làm nhiều cách để giúp đỡ các cô dâu nước ngoài, chứ không phải là người ta không quan tâm đâu.

Nhưng, chúng ta vẫn phải nhớ rằng, cô dâu Việt là công dân của chúng ta. Và chúng ta phải có trách nhiệm trước khi hy vọng về sự giúp đỡ của một ai đó".

Nghĩa là, cho đến tận bây giờ những thân phận thôn nữ vẫn phải chờ sự giúp đỡ của các cơ quan hữu trách để tránh tang thương.

Chờ như là chờ thôi và không thể làm gì khác ngoài việc vẫn cứ cố chờ, dẫu rằng đã gần đến lúc tuyệt vô hy vọng