Tú Xương đã khắc họa rõ nét, sống động hình ảnh người vợ tảo tần, là điển hình của người phụ nữ Việt Nam đảm đang, chịu thương chịu khó, giàu đức hy sinh.

Co ai 'Thuong vo' hon Tu Xuong cua ngay xua? - Anh 1

LTS: Người Phụ nữ Việt Nam đã trở thành đề tài lớn trong văn chương kim cổ nhưng viết về vợ với tư cách một người chồng thì có lẽ chỉ đến "Thương vợ" của Tú Xương mới chân thành, cảm động hơn cả.

Nhân ngày phụ nữ Việt Nam, một ngày lễ trọng tôn vinh phái đẹp cả nước, hãy cùng nghe Thạc sĩ Bùi Minh Tuấn phân tích lại hình tượng người phụ nữ này để tôn vinh vẻ đẹp người phụ nữ tần tảo, giàu đức hy sinh, cũng là vẻ đẹp chung của những người phụ nữ Á Đông xưa nay.

Trân trọng gửi đến độc giả!

Trong sự nghiệp thơ ca phong phú, đa dạng của Tú Xương, “Thương vợ” được đánh giá là một trong những bài thơ hay nhất.

Cái hay của bài thơ là đã thể hiện được một cách thấm thía, cảm động thái độ trân trọng, tri ân của nhà thơ đối với sự hi sinh, tảo tần của vợ.

Quan trọng hơn từ tác phẩm này người ta thấy hiện lên bức chân dung về người phụ nữ Việt Nam với những nét phẩm chất điển hình.

Bà Tú tên thật là Phạm Thị Mẫn, xuất thân dòng dõi nho gia “con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ”.

Bà nhẫn nại, cam phận làm người vợ thảo hiền, làm chỗ dựa tinh thần cho cuộc đời Tú Xương – một trí thức không gặp thời, long đong trên con đường sự nghiệp.

Có lẽ vì thế mà hình tượng người vợ trở thành đề tài quen thuộc trong thơ của Tú Xương.

Những bài thơ của ông viết về vợ thường mang nhiều sắc điệu: có khi là lời thủ thỉ tâm tình, lời bông đùa hóm hỉnh, cũng có lúc là nỗi niềm chua chát, xót xa nhưng bao trùm tất cả vẫn là thái độ trân trọng cảm thông, sự hàm ơn chân thành.

Nói đến người phụ nữ truyền thống là nhắc đến không gian gia đình, ở đó người vợ có vai trò quan trọng trong việc thu vén, chăm lo sự nghiệp, danh vị của chồng.

Bà Tú cũng không phải là ngoại lệ, nhưng vào buổi Tây Tàu nhốn nháo, không còn đâu cái cảnh thơ mộng “bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ”, bà Tú cũng phải cuốn theo guồng quay của cuộc đời phiền tạp, dạt theo cuộc bươn chải với đổi chác, bán mua:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”

Chân dung của bà Tú hiện lên không phải từ dáng vóc, hình hài mà từ không gian và thời gian công việc. “Quanh năm” không chỉ là độ dài thời lượng mà còn gợi ra cái vòng vô kì hạn của thời gian, nó chứng tỏ cuộc mưu sinh không có hồi kết thúc.

Không gian “mom sông” vừa có giá trị tả thực – là doi đất nhô hẳn ra lòng sông, vừa gợi lên không gian sinh tồn bấp bênh, chông chênh.

Bà Tú phải hằng ngày xuất gia chường mặt ra với đời bởi trên vai bà là cả một gánh nặng gia đình: “Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Biết bao hàm ý toát lên trong cụm từ “nuôi đủ”, nó vừa thể hiện sự chăm lo tận tụy chuyện cơm ăn áo mặc lại vừa hàm chỉ sự chịu đựng.

Cách nói của nhà thơ đầy ý vị “năm con với một chồng”, nhà thơ đã tự hạ mình ngang hàng với các con khi cay đắng, tủi hổ, xót xa nhận ra mình cũng là một thứ con trong gánh nặng của vợ.

Ca dao xưa khi nói tới hình tượng người phụ nữ thường liên tưởng tới hình ảnh con cò:

“Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

Tú Xương đã vận dụng sáng tạo chất liệu ca dao trong hai câu thơ:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Nhà thơ vừa tiếp thu, vận dụng văn học dân gian lại vừa có những sáng tạo độc đáo. Với việc dùng từ “thân cò”, tác giả vừa thể hiện danh phận khiêm nhường vừa làm nổi rõ số kiếp lận đận của bà Tú.

Trong cấu trúc cú pháp của câu thơ, biện pháp đảo ngữ đã được sử dụng nhằm nhấn mạnh, gia tăng tính chất âm thầm nhọc nhằn trong công việc của bà Tú.

Nếu như hình ảnh “đò đông” thể hiện tính chất bấp bênh trong cuộc mưu sinh thì từ láy “eo sèo” đã diễn tả sinh động sự ồn ào, nhốn nháo, phức tạp, nhọc nhằn trong công việc hằng ngày mà bà Tú phải chịu đựng.

“Một duyên hai nợ âu đành phậnKhông chỉ tần tảo, lam lũ, chịu thương, chịu khó bà Tú trong Thương vợ của Tú Xương còn là con người bổn phận vị tha, lấy hi sinh làm hạnh phúc và lẽ sống của mình:

Năm nắng mười mưa dám quản công”.

Hóa thân vào nhân vật bà Tú, nhà thơ đã nói hộ nỗi niềm tâm sự của vợ, đó là thái độ chín chắn trước duyên phận, độ lượng truớc gia cảnh.

Hiện lên trong tâm trí người đọc là hình ảnh một người phụ nữ lặng lẽ an phận, ráng sức lo toan, không trách phận than thân, không phiền lòng phẫn chí.

Việc vận dụng thành ngữ số từ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa” làm cho lời thơ trở nên cô đúc; lời kể công, kể khổ của Tú Xương dành cho vợ trở nên trĩu nặng và sự cam chịu, đức hi sinh của bà Tú càng nổi bật.

Ý thức được nỗi nhọc nhằn gian truân của vợ mà không thể san sẻ, đỡ đần, hai câu kết của bài thơ là tiếng lòng mang nặng nỗi niềm chất chứa:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không”

“Thói đời” ở đây phải chăng là sản phẩm của buổi giao thời đã tạo ra những người chông hờ hững? để rồi người phụ nữ phải mang gánh nặng trụ cột gia đình.

Câu thơ thể hiện nỗi dằn vặt, thái độ chân thành tự trách mình của nhà thơ đồng thời bộc lộ tâm trạng bất lực trong bi kịch tinh thần của người trí thức: trở thành người thừa ngay trong chính gia đình của mình.

Có thể nói với Thương vợ, Tú Xương đã khắc họa rõ nét và sống động hình ảnh người vợ tảo tần với những nét phẩm chất điển hình của người phụ nữ Việt Nam: đảm đang, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh và lòng vị tha.

Đằng sau tiếng thơ là tiếng lòng tri ân trân trọng, cảm thông đồng thời là nỗi day dứt khôn nguôi của nhà thơ đối với người vợ thảo hiền.

Xin mượn bài thơ “Viếng bà Tú Xương” viết năm 1931 của Á Nam Trần Tuấn Khải (1894-1983) làm lời kết cho bài viết nhỏ này:

“Hơn sáu mươi năm đất Vị Hoàng,

Mẹ hiền, vợ đức đã treo gương.

Nếm chung trời Việt trăm cay đắng,

Vững với non côi một mối giường**

Bia miệng đã nên trang khổn phạm***

Nếp nhà không thẹn dấu văn chương.

Tấm thân tuy thác danh nào thác,

Hồn cũng thơm lây dưới suối vàng.”

Chú thích:

* Tú Xương: Tên thật là Trần Tế Xương

* * Mối giường: Hệ thống, khuôn phép phải theo

*** Khổn phạm: Khuôn mẫu của người đàn bà có đức

Thạc sĩ Bùi Minh Tuấn