Nhiều người ví cuộc đời hào hùng và chuyện tình đẹp của bà giống như “bông huệ thép” được vẽ nên trong thời kháng chiến chống Mỹ. Những ngày tháng Năm lịch sử, Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân Ngô Thị Huệ (SN 1942, bí danh Minh Hiệp, Bảy, ngụ quận Hải Châu, Đà Nẵng) thường được nhắc đến trong các buổi gặp mặt truyền thống của Ban An ninh Quảng Nam - Đà Nẵng.

Chuyen tinh nhu co tich cua nu diep vien mang biet danh...“bong hue thep" - Anh 1

Gia đình truyền thống Cách mạng

Bà Huệ sinh ra tại làng Hương Phát (xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, Đà Nẵng), là con út trong gia đình có tám anh chị em, mẹ mất sớm. Từ nhỏ, cô bé Huệ luôn nhớ lời cha dặn “trâu già đi trước, trâu nhỏ đi sau” khi ông vừa hoạt động, vừa hướng các con theo con đường Cách mạng.

Năm 11 tuổi, bé gái gia nhập Đội thiếu nhi, làm nhiệm vụ cảnh giới và đưa thư từ liên lạc cho cán bộ. Đây cũng là giai đoạn giặc đang thực hiện chính sách thẳng tay đàn áp những người tham gia kháng chiến. Cha bà cũng bị địch bắt, bị tra tấn đến mù lòa mới được giặc trả tự do. Về nhà, ông vẫn một lòng trung thành, biến nhà mình thành căn cứ Cách mạng. Năm 1953, nhiều đồng chí cán bộ Cách mạng cốt cán đang tổ chức họp Đảng ngay trong nhà bà, bất ngờ địch đến bố ráp. Bà Huệ nhanh trí chạy thẳng ra vườn, tháo tất cả những cổng chuồng trâu để xua chúng chạy tán loạn ra đường, đồng thời la lớn “trâu sổng chuồng ăn lúa”.

Bà con trong làng nghe tiếng đổ xô chạy ra giữ vật nuôi. Một số đồng chí nhân cơ hội đó chạy thoát, người còn lại nhanh chân nhảy xuống hầm bí mật. Sau lần đó, bà và cha bị địch bắt.

Năm 1954, hòa bình lập lại, rất nhiều người ở quê thoát ly tập kết ra Bắc. Gia đình bà Huệ có tới 5 người thoát ly gồm 3 người anh ruột, một anh rể và một chị dâu. Sau khi rà soát danh sách những gia đình đi tập kết, địch bắt tất cả những người thân còn lại của bà Huệ mang đến trụ sở ủy ban xã đánh đập, tra xét.

Bà nhớ lại, năm 1959, địch bắt đầu thực hiện chính sách dồn dân vào các ấp chiến lược để dễ thi hành luật 10/59. Gia đình bà cũng bị đưa vào khu dồn dân. Khi đó, các đồng chí ở Đội Công tác huyện Hòa Vang chỉ đạo bà theo gia đình vào ấp chiến lược, để thuận tiện trong việc theo dõi tình hình, đồng thời tìm cách hỗ trợ Đội liên lạc với những cơ sở mới.

Trong thời gian này, bà đã nghiên cứu tình hình, quy luật đi lại của những đối tượng chức sắc và ác ôn ở địa phương để báo cho các trinh sát của Đội lên kế hoạch tiêu diệt. Mặt khác, bà móc nối với những người có tấm lòng hướng về Cách mạng trong hàng ngũ địch, từ đó phát hiện nhiều vị trí địch cài mìn, lựu đạn… để báo Đội công tác, giúp vào ra ấp chiến lược an toàn tuyệt đối.

Trong những năm tháng hoạt động Cách mạng, hàng chục lần bà Huệ bị địch bắt giam rồi thả nhưng không khai thác được thông tin gì. Cũng vì thế mà đòn tra tấn nào của địch bà cũng trải qua, từ đánh đập, chích điện, tạt nước vôi, kẹp tay... Tàn bạo hơn, chúng còn đánh cho bà mất khả năng làm mẹ.

Nữ tình báo anh dũng

Năm 1963, ngay khi vừa ra tù và phục hồi vết thương, bà Huệ gia nhập tổ điệp báo (Ban an ninh Quảng Đà). Công việc của một người làm tình báo cần thu thập thông tin, nắm chắc tình hình địch, chuyển tài liệu quan trọng… nên bà phải biến hóa rất nhiều vai diễn:

Khi làm cô gái quê, khi lại lẳng lơ quyến rũ quân địch, khi làm con buôn hút thuốc phì phèo. Vì nhỏ con lại lanh lợi, bà Huệ được đồng đội gọi bằng biệt danh trìu mến “cô gái hạt tiêu”.

Đầu năm 1969, trong một lần đi cơ sở, bà Huệ bị máy bay địch phục kích, một mảnh đạn bắn găm vào đầu. Ngoài vết thương thể xác, bà còn bị điên loạn, thường lên cơn động kinh.

Lãnh đạo quân khu 5 quyết định đưa bà ra Hà Nội điều trị. Một lần, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn đến thăm hỏi các thương bệnh binh ở Bệnh viện E (nơi bà Huệ đang điều trị) và tận mắt chứng kiến bà Huệ chống chọi với cơn động kinh.

Sau khi biết hoàn cảnh và những hoạt động công tác của bà, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn quyết định nhận bà làm con nuôi, đưa về nhà săn sóc như con gái. Cũng khoảng thời gian này, bà Huệ may mắn được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau lần đó, bà một lần nữa được Đại tướng hỏi thăm và gặp mặt khi ông ghé thăm quân khu 5 (Quảng Nam, Đà Nẵng).

Những ngày tháng Năm lịch sử, tìm đến ngôi nhà nhỏ của bà Huệ, nhiều người không chỉ được nghe câu chuyện về thời chiến của người nữ tình báo mà còn biết đến mối tình đẹp của vợ chồng bà.

Sau khi bị địch tra tấn mất đi thiên chức làm mẹ, bà Huệ luôn tâm niệm không nghĩ đến chuyện đôi lứa, dồn hết tình yêu cho đất nước, quê hương.

Năm 1959, bà tình cờ gặp ông Trần Trí Việt (SN 1937, cùng quê) khi cùng bị giam trong một nhà tù (lúc đó ông đã có vợ và hai con trai). Nhiều lần chứng kiến bà Huệ bị tra tấn nhưng vẫn kiên quyết không khuất phục, ông coi bà như em gái. Mười năm sau, bà ra Bệnh viện E Hà Nội chữa bệnh, nơi ông Việt đang làm Bí thư Đảng ủy. Ông Việt khi ấy cũng trải qua 5 lần bị địch bắt giam, vợ bệnh nặng qua đời chưa lâu.

Gặp lại người bạn tù chính trị, người em gái đồng hương năm xưa lúc tỉnh lúc mơ khi phải chống chọi với những cơn động kinh, ông Việt đem lòng yêu thương, mong muốn che chở, bảo vệ cho bà.

Bất chấp nhiều hoài nghi của người ngoài, ông quyết định bày tỏ tình cảm với bà và được đón nhận. Ông nhớ lại, khi bà đưa ông về giới thiệu với cha nuôi là Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng thẳng thắn gọi riêng ông lại nói: “Hoàn cảnh của Huệ như vậy, nó bệnh tật lại không có khả năng làm mẹ, cháu nên để nó bình yên”.

Ông Việt cũng không quanh co: “Cuộc đời cô Huệ cháu biết rõ, vì vậy cháu càng thương cô ấy hơn, mong muốn được ở bên chăm sóc cho cô những lúc ốm đau”.

Từ câu trả lời chân thành của ông, Bộ trưởng Hoàn đã đứng ra làm chủ hôn tổ chức đám cưới cho hai người. Ông Việt sau đó vẫn ở Hà Nội làm nhiệm vụ đến năm 1975, bà Huệ một mình về quê chồng làm dâu, nuôi hai con riêng của chồng ăn học thành tài.

Bốn mươi năm trôi qua, chuyện tình của vợ chồng bà vẫn được đồng đội ngợi ca mỗi khi nhắc đến tình yêu của người lính trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt.

NGUYÊN HÀ

Xem thêm video: