Vừa qua, dự thảo Luật Thủy lợi đã được Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, việc dự thảo Luật Thủy lợi bỏ khái niệm “thủy lợi phí” và đưa ra nguyên tắc để xác định giá đối với dịch vụ thủy lợi nhằm thu hút nguồn lực xã hội hóa trong xây dựng và quản lý, khai thác công trình thủy lợi cũng tạo ra nhiều ý kiến trái chiều.

Một trong những điểm mới của dự thảo Luật Thủy lợi là quy định về giá dịch vụ thủy lợi thay cho “thủy lợi phí” tại Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, thống nhất với pháp luật hiện hành (Luật Phí và Lệ phí không quy định “thủy lợi phí”). Đồng thời, việc thực hiện cơ chế giá sẽ làm thay đổi nhận thức của xã hội về công tác thủy lợi từ “phục vụ” sang đúng bản chất “dịch vụ”; giúp người sử dụng dịch vụ hiểu rõ bản chất hàng hóa của nước, coi dịch vụ thủy lợi là một dịch vụ đầu vào cho sản xuất, nâng cao ý thức sử dụng nước tiết kiệm.

Việc thực hiện cơ chế giá dịch vụ thủy lợi sẽ đưa công tác thủy lợi tiếp cận với cơ chế thị trường, tạo động lực cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thủy lợi; gắn trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ thủy lợi với bên sử dụng dịch vụ thủy lợi.

Chuyen phi thuy loi sang gia dich vu: Nong dan loi hay thiet ? - Anh 1

Nếu đóng tiền dịch vụ thủy lợi, người nông dân có đỡ vất vả? Ảnh minh họa.

Đây là một chủ trương đúng, phù hợp với sự phát triển, thế nhưng các bước thực hiện thế nào để hiệu quả như mong muốn không phải đơn giản. Bởi lẽ, phí để làm nông nghiệp hiện đã là cao so với thu nhập của người nông dân nên cần nghiên cứu tác động chứ không chỉ đơn giản là ngôn từ rằng chuyển qua kinh tế thị trường thì phải là giá dịch vụ. Hơn nữa, với những công trình thủy lợi nhỏ, nội đồng, dân đã bỏ tiền đầu tư rồi thì việc cung cấp dịch vụ giá sẽ như thế nào để tạo sự đồng thuận? Ngoài ra, trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ cũng cần được làm rõ. Đơn vị cung cấp dịch vụ có đáp ứng được yêu cầu không, có hoạt động minh bạch, dịch vụ có tương ứng với đồng tiền của người nông dân chi trả không?.

Có ý kiến cho rằng, nếu quy định về giá dịch vụ thủy lợi thì cần quy định rõ ràng về các mức phí, minh bạch các khoản chi về vận hành, nhân công và các khoản hao hụt. Đồng thời, phải tiến hành họp dân, thống nhất giá dịch vụ, thẩm quyền quyết định giá dịch vụ thủy lợi; mức hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng miễn giảm; các khoản chi đền bù thiệt hại theo hợp đồng cho các bên liên quan... Nhìn chung, đây là một chủ trương đúng, nhưng phải làm sao để có lợi cho cả người nông dân và bên cung cấp dịch vụ. Tuyệt đối không để nông dân thiệt thòi mà phải hai bên cùng lợi ích mới mong quy định đi vào cuộc sống.

Nếu phải trả khoản dịch vụ thủy lợi nội đồng gồm cả tiền đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác và dịch vụ bảo vệ công trình thì sẽ rất khó khăn cho người dân sản xuất nông nghiệp. Thực tế cho thấy, miễn phí thủy lợi vẫn có nhiều người bỏ ruộng đồng vì làm nông nghiệp thu nhập thấp mà vất vả, giờ gánh thêm tiền dịch vụ thủy lợi “trăm dâu đổ đầu nông dân”, nếu thực hiện không khéo quy định không thực hiện được.

Được biết, Nghị định số 154/2007/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi có hiệu lực từ ngày 1.1.2008 quy định miễn thủy lợi phí đối với một số đối tượng. Sau 8 năm triển khai, theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, nguồn lực để trang trải thủy lợi phí hiện nay chủ yếu dựa vào ngân sách Nhà nước, chưa phát huy trách nhiệm và sự tham gia của người dân cũng như khu vực tư nhân. Phần lớn người dân hiểu chính sách miễn giảm thủy lợi phí là bỏ thủy lợi phí nhưng thực ra, đây là phần hỗ trợ của Nhà nước nhằm giảm gánh nặng chi phí sản xuất nông nghiệp và có kinh phí để tu sửa, chống xuống cấp công trình. Tuy nhiên, qua thời gian, kinh phí hỗ trợ cho thủy lợi quá lớn, trong khi đó, máy móc, thiết bị không có điều kiện để nâng cấp.

Riêng Hà Nội, mỗi năm toàn Thành phố được cấp bù thủy lợi phí khoảng 400 tỉ đồng, trích từ ngân sách Thành phố. Vì vậy, việc thực hiện cơ chế giá sẽ làm thay đổi nhận thức của xã hội về công tác thủy lợi, đưa công tác thủy lợi tiếp cận với cơ chế thị trường, tạo động lực cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thủy lợi.

Dẫu sao chăng nữa, việc chuyển từ thủy lợi phí sang cơ chế giá chắc chắn sẽ tác động không nhỏ tới tâm lý của người nông dân, vốn đã quen với việc được miễn thủy lợi phí trong 8 năm qua. Hơn nữa, vì hiện nay chi phí đầu tư cho thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng chủ yếu do Nhà nước đầu tư, nên nếu phải trả khoản dịch vụ thủy lợi nội đồng gồm cả tiền đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác và dịch vụ bảo vệ công trình thì sẽ rất khó khăn cho người dân sản xuất nông nghiệp. Thực tế cho thấy, miễn phí thủy lợi vẫn có nhiều người bỏ ruộng đồng vì làm nông nghiệp thu nhập thấp mà vất vả, giờ gánh thêm tiền dịch vụ thủy lợi “trăm dâu đổ đầu nông dân”, nếu thực hiện không khéo quy định không thực hiện được.

Lê Mai