Tại 21 đảo và 33 điểm đóng quân của huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa có 9 ngọn hải đăng. 9 ngọn đèn biển ấy không những dẫn đường cho tàu thuyền qua lại, mà còn soi rõ và khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên biển. Để đèn luôn sáng, những người gác đèn phải cắm chốt ngày đêm dù bão tố, gió dông và mặc cho cái nắng, cái gió lẫn cái khó cứ bện lấy họ…

Hải đăng trên đảo Nam Yết sừng sũng soi rõ chủ quyền tổ quốc. Ảnh: LÊ TUYẾT

Tôi gặp Trần Văn Khánh - Trạm trưởng trạm hải đăng Nam Yết - khi anh vừa “nhậm chức” được 3 ngày. Vừa trò chuyện với tôi, anh vừa tất bật đấu nối dây điện cho các phòng của trạm, kiểm tra đèn và không quên pha trò: “Đối với các “đèn sĩ” thì trạm là nhà, đèn là bạn, đi tới đâu cũng chăm chút lo cho ngôi nhà của mình, còn đối với bạn thì phải quan tâm, thăm hỏi chân tình”.

Chân dung “đèn sĩ”

Với khuôn mặt sạm nắng gió, trông anh Khánh già hơn tuổi 45 nhiều. Sinh ra trong một gia đình 5 anh chị em có truyền thống làm nghề tàu biển, 3 anh trai theo nghiệp gia đình, chỉ riêng cậu út là anh lại chọn hướng đi mới. Anh tâm sự: “Ban đầu tôi cũng không biết những người gác đèn sẽ làm công việc gì, cuộc sống của họ ra sao, chỉ hiểu nôm na là chỉ đường cho những người đi biển như cha, như anh tôi”. Vậy mà đến tết này, “đèn sĩ” Trần Văn Khánh có hơn 20 năm gắn bó với những ngọn đèn biển. Vừa làm nhiệm vụ gác đèn, vừa tiếp tế cho đồng đội, dấu chân anh đã đặt lên khắp các đảo của Trường Sa.

Sau khi tốt nghiệp ngành hàng hải, Trường Trung cấp Thủy sản I Hải Phòng, anh đăng ký học lớp nghiệp vụ đèn rồi nộp đơn xin vào Cty Biển Đông Hải Đảo thuộc TCty Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam. Năm 1994, anh nhận nhiệm vụ đầu tiên của đời “đèn sĩ” và là đời thứ 2 tiếp quản ngọn hải đăng đảo Song Tử Tây - ngọn hải đăng đầu tiên được xây dựng ở huyện đảo Trường Sa. Năm đó “đèn sĩ” Trần Văn Khánh vừa tròn 25 tuổi.

Nhớ lại chuyến công tác đầu tiên kéo dài 1 năm trời, anh không giấu được xúc động: “Ngày đó mọi thứ còn thiếu thốn chứ không như bây giờ, điện thoại không có, thư từ viết về đất liền đóng thành tập như viết nhật ký, vài tháng hoặc có khi gần 1 năm mới có tàu ra, lại khấp khởi gửi về đất liền. Có khi người ở nhà đọc thư thì mình cũng đã ngồi bên cạnh”. Tôi cắc cớ: Khó khăn là vậy, thiếu thốn là vậy nhưng sao anh không đổi nghề khi có cơ hội về đất liền? Anh cười xòa: “Đôi khi nhìn cuộc sống của những người đổi nghề mình rất thích. Sự thật là mấy tháng đầu tiên làm việc ở ngọn hải đăng Song Tử Tây, nỗi nhớ nhà, thiếu thốn đủ thứ, đồ ăn mua từ đất liền, rau xanh tự tăng gia, tôi cũng đã có ý định liều mình nhảy xuống biển, bơi một mạch 2 ngày 2 đêm vào đất liền, bỏ nghề nhưng rồi không bỏ được, dù bao nhiêu lần tàu đón vào đất liền”.

Anh kể, một lần anh em trong trạm cưỡi xuồng máy chở rau “tăng gia” đi tặng các chiến sĩ ở đảo chìm Đá Nam. Khi về, đi được nửa đường thì nổi dông lớn, trời biển mù mịt, ba “lính nhà đèn” không định được hướng đảo Song Tử Tây. Để xuồng không bị trôi, anh em phải nổ máy liên tục nhưng dầu thì có hạn, hết dầu là không biết số phận chiếc xuồng và anh em sẽ ra sao. “Lúc đó ai cũng tuyệt vọng, chỉ ước thấy được ánh sáng của đèn biển để định hướng đường về. May mắn là 15 phút sau thì dông tan dần, ba anh em vừa mừng vừa khóc khi thấy ánh sáng của đèn biển Song Tử Tây. Lúc đó tôi mới thấu hiểu cảm giác của những ngư dân lênh đênh trên biển khi trời dông gió nhìn thấy ánh sáng ngọn đèn biển quan trọng biết chừng nào, và tự hứa sẽ không bỏ nghề dù khó khăn như thế nào”.

Mải miết với những ngọn đèn, triền miên với những chuyến đi, gắn bó với đảo, anh lính nhà đèn bộc bạch: “Nhiều lúc tưởng ế vợ đến nơi. Cứ biền biệt 1 năm, 2 năm ngoài đảo, về phép được chỉ được 3, 4 tháng thì cưa cẩm được ai. Có khi mới quen nhau lại nhận nhiệm vụ, xách ba lô lên đường. Ngày về nàng đã có chồng, có con. 35 tuổi mới “lừa” được một cô. Cưới ngay! Nói là “lừa” nhưng cô ấy cũng thương mình thật lòng, lấy nhau được 10 năm nhưng thời gian thật sự sống với nhau chắc chỉ tính bằng chục tháng, ăn tết với gia đình lại càng hiếm hoi. Tôi theo được nghề một phần cũng bởi có cô ấy cảm thông, tôi lại động viên khi nào tôi nhận được cái sổ hưu thì về nhà ở mãi với vợ, với con. Nhiều đồng nghiệp của tôi đành phải chia tay vợ một phần vì cái nghề này cứ đi biền biệt, phần nữa là vợ các anh ấy không thể cảm thông”.

Đèn sáng soi rõ chủ quyền

9 ngọn hải đăng ở các đảo Đá Lát, An Bang, Đá Tây, Tiên Nữ, Song Tử Tây, Trường Sa Lớn, Sinh Tồn, Sơn Ca, Nam Yết đều do các kỹ sư, cán bộ, nhân viên của Cty Biển Đông Hải Đảo thuộc TCty Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam điều hành hoạt động, bảo trì bảo dưỡng, sửa chữa và thay thế. “Ngoài chức năng dẫn đường cho tàu thuyền qua lại khu đường hàng hải quốc tế, mỗi ngọn hải đăng còn là ngọn đèn đánh dấu tọa độ bãi cạn, làm điểm tựa cho ngư dân Việt Nam và ngư dân các nước trong khu vực khai thác, đánh bắt hải sản trên khu vực biển của mình. Những đêm dông gió công việc của mình càng phải được chú trọng” - anh Khánh chia sẻ.

Trạm trưởng Trạm đèn biển Nam Yết Trần Văn Khánh (trái) và lính mới Nguyễn Văn Thuấn kiểm tra lại đèn, thiết bị trước khi mặt trời lặn.

Chúng tôi đang nói chuyện thì trời nổi dông, anh và đồng nghiệp vội đi kiểm tra, chuẩn bị bật đèn nếu trời chuyển tối. Vừa kiểm tra, anh vừa phân tích ý nghĩa của những ánh chớp đèn biển. Chu kỳ, nhóm chớp của mỗi ngọn đèn đã được báo cáo lên ngành hàng hải quốc tế, nó giống như “số nhà”, vị trí của đảo, ánh chớp đèn báo cho người đi biển biết họ đang gần đảo nào, nhờ thế mà xác định được vị trí trên biển. Anh ví dụ, đèn biển của Song Tử Tây, chu kỳ 15 giây chớp trắng đơn, đèn biển ở đảo An Bang có chu kỳ 10 giây chớp nhóm 2. Còn đèn biển ở đảo chìm Tiên Nữ có chu kỳ 10 giây chớp nhóm 3... Hơn 20 năm gác đèn, “đèn sĩ” Khánh đã nhận nhiệm vụ ở lần lượt ở 4 ngọn hải đăng ở 4 đảo Song Tử Tây, An Bang, Tiên Nữ, Nam Yết. Có đảo anh quay lại 4 hoặc 2 lần như Song Tử Tây, An Bang...

Anh bảo “20 năm gắn bó với nghề, trong mơ tôi cũng có thể nói rành mạch những công việc mà hằng ngày những “đèn sĩ” chúng tôi cần làm”. Sáng sớm, tùy theo ca trực mà anh em sẽ kiểm tra toàn bộ hệ thống phản quang, lau chùi bóng đèn và các thiết bị chiếu sáng, kiểm tra máy nổ phát điện, theo dõi thông số kỹ thuật để kịp thời phát hiện và điều chỉnh.

Mỗi ngày vào lúc 8h sáng và 15h chiều, trưởng trạm phải báo cáo về cơ quan tình hình khu vực, phân công anh em chia ca trực từ 18 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau. Vào những ngày mưa bão, cứ 15 phút các anh phải thay nhau trực và kiểm tra các thông số kỹ thuật đảm bảo ngọn đèn biển không được tắt. “Ánh sáng của ngọn đèn biển rọi tới đâu, chủ quyền của biển đảo ta càng được soi rõ tới đó. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đèn không được tắt là nguyên tắc bất biến trong nhiệm vụ của người gác đèn” - anh Khánh khẳng định.

Những ngày cuối năm, trời tối nhanh, anh Khánh và một anh lính nhà đèn mới toanh Nguyễn Văn Thuấn, sinh năm 1988, đi bật đèn sớm hơn thường lệ. Lần đầu tiên xa nhà đi đảo, Thuấn không giấu vẻ bỡ ngỡ. Vỗ vai “thằng em”, Trạm trưởng hải đăng Nam Yết chân thành: “Sẽ có những lúc nhớ vợ nhớ con kinh khủng, nếu ở đất liền thì sẽ chạy ra mua một cái vé máy bay mà bay về nhà, nhưng nếu ở đảo thì dù có trong tay tiền tỉ cũng chịu. Cứ gắn bó với đèn, với trạm, cho tuổi trẻ cơ hội được thử thách, va chạm với sóng gió rồi sẽ yêu nó. Như tôi vậy, lắm lúc về đất liền cứ bồn chồn, lại nhớ mỗi đêm nhìn thấy ánh sáng của đèn lại yêu đảo, yêu biển của mình hơn”.