Nguyễn Đức Vân đem vốn quý của cha ông để lại đặt trong một khung cảnh nên thơ lại có thiền vị, là một việc rất hay đáng ủng hộ, tán thưởng… Nếu thêm vào những tảng đá có ghi hồn chữ không những tạo được cảnh quan đẹp mắt mà còn làm nên một vùng văn hóa vừa có rừng sim vừa có đá, làm đẹp lòng người đến viếng vườn ca dao.

Ở thành phố Bảo Lộc, vào đầu những mùa hè, thỉnh thoảng tôi phát hiện một nhà sư trẻ ngồi vui vẻ bán cả rổ sim tím chín mọng bên cạnh cổng trường. Mỗi lần gặp được người mua, vị sư ân cần giải thích về công dụng của loại quả này đối với sức khỏe và giới thiệu chai nước vắt được ông ép từ sim dành cho các em trong mùa thi cử. Khách hàng của ông chủ yếu là học sinh, mỗi em mua một vài ngàn chia nhau ăn rất vui vẻ. Những trái sim chín ngọt lừ này đối với các em không những là quà tặng cho nhau mà còn nhớ đến hương vị của núi rừng hoang dã.

Để được làm quen với ông, tôi dừng xe mua một bát sim nhỏ trị giá tám ngàn đồng, rồi đưa tờ giấy bạc mười ngàn cho ông và nói nhỏ không phải trả lại, nhưng ông vẫn cương quyết móc tờ hai ngàn cũ vuốt phẳng phiu thối lại một cách lịch sự. Ông cho biết ai cũng phải lao động để tồn tại, việc bán sim ngoài tích cóp những đồng tiền nho nhỏ để mua gạo muối hằng ngày, còn vấn đề chính là gợi lại hình ảnh tuổi thơ và động viên các em hãy giữ rừng để còn được cái ăn, để còn được trở về với mái nhà chung thiên nhiên cây lá. Biết đây là mẫu người sống có trách nhiệm, tôi ngồi xuống cạnh ông vừa mời khách mua sim vừa gợi chuyện với vị tu sĩ kỳ lạ này.

Ông tên là Nguyễn Đức Vân, pháp danh Đại đức Thích Giới Lực là tu sĩ có cốc riêng tại rừng Phương Bối tận đầu đèo Bảo Lộc. Ông Đại đức gần 40 tuổi gầy gò, da ngăm đen cao ráo, râu tóc cạo nhẵn, đôi mắt có hồn và tiếng cười rất sung mãn. Biết tôi thích tìm hiểu về những người trồng rừng, ông nhiệt tình mời tôi về cốc ở Đại Lào, ăn cơm chay, ngủ lại một đêm với rừng sim do ông tự trồng một cách thực lòng.

Đường vào cốc Phương Bối phải qua hàng chục con dốc ngoằn ngoèo đầy đá nhọn hoắt, vượt qua từng xóm nhà, từng vườn cà phê cuối cùng đến ngọn đồi cao heo hút, vắng bóng người nhưng thừa gió lộng. Từ trên đồi sim này có thể nhìn thấy cả vùng sơn nguyên dài theo tầm mắt, rừng không còn bao nhiêu nữa, thay vào đó là những khu đất lở lói bạc màu đan xen với vườn chè và cà phê phủ lên thành những gam màu tối sáng. Có thể nói, con người đến đâu là cây rừng biến mất, người ta đã vô tư phá rừng, tàn sát lá phổi thiên nhiên một cách vô tội vạ.

Mặt trời xuống dần, cốc Phương Bối chỉ còn gió và bóng tối mênh mông văng vẳng tiếng cuốc gọi đàn, tiếng tu hú kêu và tiếng chim lợn ăn đêm vọng lên khô khốc như muốn phá vỡ màn đêm giữa đồi cao cô quạnh. Ông chủ nhà mang lên một xoong khoai lang bốc khói, những củ khoai nhỏ bằng ngón tay cái cong queo nhưng ngọt lịm. Ông cho biết đây là khoai ông tự trồng, không bón phân hay phun bất kỳ loại thuốc trừ sâu nào cả…

Thời thơ ấu nhọc nhằn

Nhà sư Thích Giới Lực sinh năm 1973 tại Sài Gòn, là con thứ ba trong tám người con của nhà văn Nguyễn Đức Sơn, mẫu người cực đoan, lập dị. Sau năm 1975 không biết vì lý do gì ông nhà văn này dẫn vợ con lên rừng Phương Bối ở Đại Lào dựng lều tranh tre sinh sống. Ngày ấy Phương Bối còn là rừng nguyên sinh, từ quốc lộ 20 rẽ vào 3km phải trèo lên nhiều dốc đá, bò lết theo con đường nhỏ, quanh năm vắng bóng con người. Công việc đầu tiên sau khi hạ trại là phát rừng vỡ đất trồng khoai. Vào thời điểm ấy cả nhà chỉ biết khoai lang là thức ăn chính, hằng ngày đều theo điệp khúc “solo” có nghĩa là mỗi người mỗi củ khoai ngồi trên gốc cây, bờ đá vừa thổi vừa ăn.

Đến một năm sau mới được ăn cơm với khẩu phần một chén rưỡi đầu người, trong những lúc đói quay quắt ấy, hạt cơm vừa dẻo vừa thơm ngọt lịm. Nhưng cái thèm khát lớn hơn của cậu bé Nguyễn Đức Vân là con chữ, mỗi lần thồ dây lang qua cổng trường nghe tiếng đánh vần của học sinh cấp một nước mắt trào ra. Ước gì được đi học! Cũng may trong nhà có người anh lớn biết đọc nên đêm đêm Vân nhường nửa chén cơm cho anh ăn để nhờ dạy chữ. Tội nghiệp mẹ ông, mỗi lần nhìn anh em dạy nhau đánh vần bên ngọn đèn dầu tù mù đầy khói bà ôm mặt khóc, còn bố với đôi mắt chòng chọc há hốc nhìn con trong câm lặng.

Vì chuyện học hành con cái cộng với đời sống quá khắc khổ, nên bố mẹ thường cãi nhau, không khí gia đình luôn luôn trong bão tố. Những lúc ấy, ông chỉ muốn bố mẹ chia tay nhau để bà có thể từ bỏ núi rừng dẫn các con ra quốc lộ sống chung với mọi người để kiếm cái chữ. Có lẽ kỷ niệm thời xa vắng mà ông không quên được ngoài cái đói quay quắt lúc đêm về, còn mỗi anh em được trang bị thùng thiếc như vũ khí tùy thân, đêm đêm chạy vòng nương rẫy gõ và hò hét hàng trăm lần theo kịch bản bố soạn sẵn: “Heo, thỏ mày ăn cỏ chứ đừng ăn khoai”. Hoặc những lúc phát hiện người lạ vào nhà, trong gia đình ai nhìn thấy trước phải vỗ thùng báo động, chỉ cần tín hiệu phát đi ban đầu cả khu rừng vắng đồng thanh vọng lên những âm vang kỳ lạ. Ông nhớ những lúc ấy, có đứa ngồi dưới đất, có đứa trèo lên cây vừa rung vừa hét. Cho mãi đến bây giờ ông cũng không biết tại sao bố bắt làm thế!

Ban ngày vào rừng hái măng, hái sim, hái đót để xuống Tân Bùi đổi gạo muối, ban đêm sống trong cảnh không dầu đèn. Vì vậy, những anh em của ông lớn lên như củ khoai lang teo tóp nằm lăn lóc ở vệ đường. Vào năm 17 tuổi, ông được bố gửi vào chùa Phước Huệ để đi tu và bắt đầu học lớp 1. Ông Đại đức cho tôi xem bài thơ “Nhớ xưa” do ông làm, đó là kỷ niệm đầu tiên trong đời biết viết: Nhớ xưa cuốc cỏ vun khoai/ Cha trồng con tưới đêm dài thức trông/ Chao ơi heo thỏ nó đông!/ Đêm nào con cũng vòng vòng đuổi la/ Bây giờ con đã đi xa/ Còn cha ở lại quê nhà mình thôi/ Đêm đêm cha có thức coi/ Đàn heo chạy phá quanh đồi xưa không?...

Về lại với rừng

Học hết cấp 3 bổ túc và 4 năm Phật học ở Đà Lạt, ông được gửi về chùa ở Sài Gòn tiếp tục học thêm. Sống giữa thành phố với nền văn minh hiện đại, ông phát hiện con người dần dần bị bê tông hóa, văn hóa nhân bản xuống cấp. Tại Bệnh viện Ung bướu, hàng trăm con người nằm, ngồi xếp hàng thẫn thờ chờ khám những căn bệnh quái ác đã làm ông suy ngẫm kiếp người giữa đạo và đời theo quan điểm nhà Phật.

Lúc ấy ông cho rằng những căn bệnh trên đều phát sinh từ nguồn thức ăn bởi con người chỉ vì lợi nhuận, họ đã sử dụng hóa chất phun vào rau xanh, cây lương thực, thậm chí dùng thuốc tăng trọng không được kiểm chứng trộn vào thức ăn gia súc rút ngắn chu kỳ nuôi dưỡng nên đã gây tác hại đến sức khỏe con người. Biết khả năng mình không đủ tâm và tầm để thuyết phục mọi người sống có trách nhiệm với đồng loại, ông quyết định về rừng làm một điều gì đó vừa thích hợp với mình vừa có thể thông qua hình ảnh sống, gián tiếp kêu gọi con người hãy thương yêu nhau thay vì đi làm từ thiện hoặc thuyết giảng Phật pháp.

Về lại rừng Phương Bối, bước đầu tiên ông vỡ đất trồng khoai thổi lại bản nhạc “solo” của thời xa vắng. Sau đó ông đi xin, mua chịu những đồi hoang khô cằn, bạc màu ở giữa rừng và quyết định trồng sim để vừa giải quyết được cuộc sống tạm thời vừa xây dựng điểm đến cho thế hệ trẻ. Hằng ngày ông vào rừng tìm sim đào gốc, hì hục chuyển về nơi tập kết, đã có lúc bị té gẫy chân phải bó bột mấy tháng liền. Những người làm vườn thấy ông đói nằm lê lết trong lều nên mang cho gạo, khoai hoặc vài chục ngàn để tồn tại qua ngày.

Thời gian bao giờ cũng vô tâm lặng lẽ trôi đi không để lại dấu vết, nhưng khu đồi hoang năm nào trơ trọi, khô cằn đã được ông để lại 5.000 gốc sim và 2.000 cây thông xinh tươi phủ kín. Đồi sim nay đã đâm chồi nảy lộc tạo thành một rừng hoa tím. Đến nay, nhìn màu xanh yêu thương ấy khó có thể tưởng tượng đến vị nhà sư ốm yếu, một mình lặng lẽ đào bới, khuân vác, kéo lê từng gốc sim trong những cơn đói khát giữa rừng núi đại ngàn. Nhấp một ly trà xanh nguyên chất giữa đêm khuya tĩnh lặng, ông chậm rãi nói chuyện đạo pháp với tôi đầy tính minh triết về rừng:

Tôn giáo lớn nhất của con người là tính nhân bản hòa quyện với vũ trụ, khi con người không có tình yêu thiên nhiên sẽ không thể yêu thương đồng loại. Đời người rồi cũng trở về cát bụi, cũng nên để lại một điểu gì có ích cho thế hệ mai sau. Tôi nhớ có người đã nói “Con người trước khi nhắm mắt nên để lại 3 điều cho hậu thế: Nuôi dạy được một đứa con sống tử tế, viết được một quyển sách và trồng được một cây xanh bóng mát”.

Cha tôi có thể là một người lập dị sống bất chấp dư luận, nhưng ông luôn dạy các con phải cố giữ rừng, phải biết yêu thiên nhiên. Hơn 30 năm qua, ông cùng chúng tôi trồng được gần 20 mẫu thông phủ kín một góc rừng Phương Bối. Từ khu rừng thông này, hằng ngày không biết bao nhiêu lượt người vào nằm tựa gốc cây có đường kính 0.50m để nghỉ mát, có lẽ một vài người trong số đó ngày trước cho rằng chúng tôi “làm việc bao đồng”. Nhưng cha mẹ tôi, một gia đình nghèo khó vật vả nuôi 8 đứa con nên chỉ để lại cho chúng tôi tình yêu thiên nhiên, để lại cho đời hàng ngàn cây thông bóng mát tại rừng Phương Bối.

Hai mẫu sim của tôi là sự nối tiếp rừng thông của cha con tôi trồng ngày trước. Hằng năm vào mùa sim chín, không ít người và chim chóc ghé thăm, đặc biệt là học sinh các em tung tăng giữa đồi sim lộng gió được làm bạn với rừng với chim từ cu gáy, họa mi đến chim khách đuôi dài… thỉnh thoảng các em tổ chức những bữa cơm chay, sống trong tình thương và trí tuệ, hòa mình với không gian cây lá.

Trong kế hoạch tiếp theo, tôi đã kéo về gần 400 tảng đá từ những nơi gần nhà, chúng sẽ được bố trí trong vườn sim và sẽ mang trên mình những câu thơ hoặc câu ca dao nói về gia đình, quê hương và thiên nhiên như những bản thông điệp nhắc nhở hâm nóng con người. Tại đồi sim này, vài năm tới sẽ trở thành một vườn ca dao. Lúc ấy người, sim và những câu thơ mang hồn trên đá sẽ làm cho con người gắn bó và có trách nhiệm nơi mình đang sống