Việc chuyển đổi mã vùng đối với 63 tỉnh, thành sẽ kết thúc vào ngày 31/8/2017. Bộ Thông tin & Truyền thông nhận định việc chuyển đổi mã vùng tác động rất nhỏ đến người dùng.

Bộ trưởng Thông tin & Truyền thông vừa ban hành quyết định về Kế hoạch chuyển đổi mã vùng. Theo đó, lộ trình chuyển đổi mã vùng được chia thành 3 giai đoạn, bắt đầu từ ngày 11/2/2017. Mỗi giai đoạn đều thực hiện đủ 4 bước gồm thông báo trên các phương tiện truyền thông, tiến hành biện pháp kỹ thuật để quay số song song trong 30 ngày, duy trì âm thông báo trong thời gian tối thiểu 30 ngày kể từ khi kết thúc việc quay số song song, kết thúc âm thông báo - các cuộc gọi chỉ thành công khi người sử dụng quay số theo mã vùng mới.

Chuyen doi ma vung dien thoai co dinh tu 11/2/2017 - Anh 1

Mã vùng điện thoại cố định sẽ bắt đầu chuyển đổi từ ngày 11/2/2017 tới. Ảnh minh họa

Ở giai đoạn một bắt đầu từ ngày 11/2 và kết thúc ngày 14/4/2017 gồm 13 tỉnh, thành phố là Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên, Yên Bái, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Giai đoạn 2 chuyển đổi mã vùng của 23 tỉnh, thành phố là Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Hải Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ, Hậu Giang, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng. Thời gian tiến hành từ ngày 15/4 đến 16/6/2017.

Giai đoạn 3 chuyển đổi mã vùng của 23 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, TP HCM, Đồng Nai, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Kon Tum, Đắk Nông, Đắk Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai, Vĩnh Long, Bình Phước, Long An, Tiền Giang, Bình Dương, Bến Tre, Tây Ninh, Đồng Tháp. Thời gian tiến hành từ ngày 17/6 đến 31/8/2017.

Riêng mã vùng 4 tỉnh là Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình, Hà Giang giữ nguyên.

Theo Bộ Thông tin & Truyền thông, việc điều chỉnh quy hoạch kho số viễn thông là bình thường và cần thiết. Các nước trên thế giới thông thường 10-15 năm lại điều chỉnh quy hoạch kho số để đáp ứng tốt nhu cầu phát triển. Việt Nam xây dựng và ban hành kho số lần đầu vào năm 2006, sau khi thực hiện mở cửa, xóa độc quyền doanh nghiệp trong lĩnh vực viễn thông. Do đó, khi đó để tránh gây ảnh hưởng đến người sử dụng trong khi vẫn đảm bảo kho số sử dụng trong vòng 10 năm nên quy hoạch năm 2006 giữ nguyên hiện trạng mã vùng và mã mạng đã tồn tại từ trước.

Tuy nhiên, trong quá trình chia tách, hợp nhất tỉnh, thành phố, độ dài mã vùng của Việt Nam không nhất quán. "Tỉnh thì có mã vùng dài 3 chữ số, tỉnh khác lại chỉ có một hoặc 2 chữ số nên khi gọi đường dài trong nước hoặc gọi từ mạng di động đến số cố định, lúc thì quay 10 số, lúc lại quay 11 số dẫn đến dễ gây nhầm lẫn và khó nhớ. Điều này không phù hợp với thông lệ quốc tế", lãnh đạo Bộ cho hay.

Trước đó, từ năm 2014, để giải quyết các bất cập nói trên, Bộ ban hành sửa đổi Quy hoạch kho số viễn thông năm 2014 điều chỉnh lại mã vùng, mã mạng. Việc điều chỉnh này không chỉ giải quyết các bất cập nói trên mà theo cơ quan quản lý còn giúp người dùng dễ nhớ và ít bị nhầm lẫn. Cùng với đó, Bộ cũng lý giải các tỉnh, thành phố liền kề được gom chung vào một nhóm mã vùng (ví dụ nhóm mã vùng 20x là các tỉnh Đông Bắc), mở ra cơ hội sau này dễ dàng giảm mã vùng trên toàn quốc từ 63 xuống còn khoảng 10 vùng. Khi đó, người dân dễ được hưởng lợi vì các cuộc gọi trong cùng mã vùng chỉ phải trả cước phí thấp.

Ngoài ra, theo Bộ, sau khi thực hiện kế hoạch, tất cả các mã vùng được đưa về đầu 2, sẽ thu lại được nhiều đầu mã để chuyển thuê bao di động 11 chữ số về 10 chữ số. Điều này góp phần hạn chế SIM rác, tin nhắn rác.

Bộ Thông tin & Truyền thông cho biết việc chuyển đổi mã vùng sẽ không ảnh hưởng đến số thuê bao mà vẫn giữ nguyên như cũ. Nghĩa là khi thực hiện cuộc gọi nội hạt, từ cố định đến cố định trong một tỉnh, thành sẽ không có gì thay đổi.

Các cuộc gọi liên tỉnh, từ di động và từ quốc tế vào số cố định sẽ chịu tác động của kế hoạch này. Với cuộc gọi này, phải thay mã vùng cũ bằng mã vùng mới.

Theo báo cáo của các doanh nghiệp viễn thông, tổng lưu lượng của các cuộc gọi liên tỉnh từ di động và từ quốc tế vào số cố định Việt Nam chỉ chiếm khoảng 1,6% tổng lưu lượng viễn thông Việt Nam.

"Như vậy, tác động thực sự tới các cuộc gọi không nhiều. Đối tượng bị ảnh hưởng chủ yếu tập trung ở khối cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức. Ngoài ra, một số tổ chức, cá nhân chịu tác động là có thể phải làm lại các sản phẩm gắn với mã vùng như: card visit, bao bì, biển quảng cáo...", Bộ Thông tin & Truyền thông nhận định.

Theo VNE