Chuyện rằng, vào một ngày ông quan đi vắng, bà Huyện thay chồng thăng đường vì có ông Đỗ Hương Cống tới xin mổ trâu để giỗ bố. Hoàn cảnh bấy giờ mùa màng thất bát, triều đình nhà Nguyễn có lệnh hạn chế mổ trâu trong những dịp tế lễ khao vọng, nhằm để phát triển việc canh nông. Bà Huyện ngần ngừ, nhưng trước sự năn nỉ của ông Cống, và cũng cảm động trước hiếu hạnh của ông, Bà cười hóm hỉnh rồi cầm bút phê vào đơn:

Người ta thì chẳng được đâu/ "Ừ" thì ông Cống làm trâu thì làm.

Biết Bà Huyện chữ nghĩa nước đôi để lỡm mình, nhưng đã được như sở nguyện, ông Cống vui vẻ ra về .

Bìa sách viết về bà Huyện Thanh Quan (ảnh mang tính minh họa cho bài viết, Nguồn: Internet)

Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm, gần Hồ Tây (nay là phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội). Bà là nhà thơ nữ nổi tiếng thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam. Những bài thơ Nôm của Bà thiên về tả cảnh, tả tình, đậm nghĩa nước, tình nhà trong lời văn trang nhã, ý thơ điêu luyện.

Cũng vào một dịp ông Huyện vắng nhà. Có cô Nguyễn Thị Đào đến công đường kiện cáo vì chồng có vợ bé, nên bỏ bê nhà cửa, để cô phải phòng không gối chiếc. Cô làm đơn xin ly dị để đi lấy chồng khác. Cảm thông với nỗi khổ tâm của người phụ nữ, bà Huyện phóng khoáng phê vào đơn:

Phó cho con Nguyễn Thị Đào/ Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai

Chữ rằng "Xuân bất tái lai"/ Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già.

Sau đó, người chồng của cô này kiện lên quan trên, nghe nói vì việc này mà ông Huyện Thanh Quan phải mất chức .

Sâm cầm là một loại chim quý. Vì chúng ăn toàn củ sen, củ ấu và tôm tép ở đầm lầy, ao hồ, nên người ta tin rằng thịt chúng rất bổ. Từ thời vua Lê, chúa Trịnh, chúng đã len lỏi vào cả những bữa ngự thiện của bậc vương giả và những nhà quyền quý ở kinh thành. Chúng lại quý ở chỗ rất hiếm, chỉ sống ở vùng ven Hồ Tây và rải rác ở thượng du.

Dấu tích làng cổ Nghi Tàm ngày nay - quê hương Bà Huyện Thanh Quan (ảnh: Xuân Thắng)

Đến đời các vua nhà Nguyễn, lệ vua quy định: hằng năm, mỗi giáp phải nộp năm chim sâm cầm từ bảy lạng đến một cân, béo đẹp, đến cuối tháng một phải nộp cho đủ số. Nếu nhà nào không nộp thì phải phạt vào tội trốn lệ vua, thiếu một con chim phải phạt vạ: bạc 10 nén, gà sống thiến một đôi, dây dưa thì phải đánh 100 roi trên phủ. Dân làng Nghi Tàm năm nào cũng khốn khổ bởi lệ ấy. Vì họ cứ phải ẩu đả cãi cọ với dân các làng khác tới rình bắt sâm cầm trên địa hạt làng mình. Thậm chí ngay cả dân trong làng, cũng giành giật nhau vì từng mô đất, vũng hồ, ...

Các quan lại địa phương như Tri huyện Vĩnh Tường, Quan Phủ Phụng Thiên, lại lợi dụng lệ tiến cống này mà bắt dân làng phải nộp thêm chim cho mình, nếu không sẽ roi vọt, hạch sách đủ điều. Lý trưởng làng Nghi Tàm cũng đã bị quan trên đánh trăm roi vì lệ này. Ông cũng là người nghĩa khí, thương dân làng, nhân chuyện này đã lặn lội vào kinh, nhờ Bà Huyện Thanh Quan dâng đơn lên Vua Tự Đức, thưa việc xách nhiễu của quan trên và xin vua bỏ cho lệ tiến cống. Bà Huyện cảm động trước sự can đảm làm việc nghĩa của thầy Lý, lại thương dân làng khốn khổ từ đời nọ sang đời kia vì điển lệ này, nên bà đã nhận giúp và nhờ một bà Hoàng Phi đang được vua sủng ái, nói hộ cho dân.

Làng nghi Tàm, nay thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội (ảnh Huyền Phương)

Việc này đã thành công. Vua ban chiếu chỉ tha "lệ" cống hằng năm cho dân làng. Cả làng Nghi Tàm sau đó đã ăn mừng ba ngày liền, họp nhau cùng ghi tên Bà Huyện Thanh Quan vào Ngọc Phả chứng nhận công đức của những người có công với dân làng, cuốn Ngọc Phả mà ngay từ trang đầu đã có tên của Công chúa Từ Hoa .

Cũng có một truyền thuyết khác cho rằng chính Bà Huyện đã giúp dân làng viết đơn xin miễn lệ tiến sâm cầm lên vua Tự Đức, vì lúc này bà đã nghỉ hưu và về ở trong làng. Quan trên ra lệnh điều tra tìm người viết đơn. Nhưng chắt ngoại của cụ Phạm Quý Thích làm tri huyện Hoàn Long đương thời, vì kính nể Bà Huyện và cũng nghĩ đến quan hệ thân tình giữa hai nhà, nên đã tìm cách im chuyện này đi.