(ANTĐ) - Bộ TT-TT vừa tổ chức lấy ý kiến về dự thảo 22, Đề án “Tăng tốc sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT”. Theo Đề án này, năm 2015, Việt Nam sẽ có thứ hạng trong số các quốc gia mạnh về CNTT thế giới; đồng thời, đây sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

Cần xây dựng nguồn nhân lực CNTT có trình độ cao Đề án đưa ra mục tiêu tổng quát là đến năm 2015, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 70 và năm 2020, xếp vị trí thứ 60 trong bảng xếp hạng của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU). Thứ trưởng Bộ KH-ĐT Nguyễn Bích Đạt cho rằng: “Mục tiêu này chưa thuyết phục bởi vị trí này phản ánh trình độ phát triển ở mức độ trung bình khá trên thế giới, chưa phải là của quốc gia mạnh”. Ông cũng cho rằng, để xác định tốt mục tiêu, Đề án cần làm rõ khái niệm “quốc gia mạnh về CNTT” là như thế nào. Tốc độ phát triển bình thường như thế nào; từ đó xác định việc “tăng tốc” như thế nào. Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân, để mục tiêu về mức độ phát triển CNTT của Việt Nam thuyết phục hơn thì đề án cần đặt trong mối tương quan với trình độ, tốc độ phát triển CNTT của các nước trên thế giới cùng thời điểm đó. Đồng thời, lưu ý đến kinh nghiệm của các nước phát triển CNTT trong khu vực và trên thế giới, so sánh những lợi thế, những điểm yếu để đánh giá sát tiềm năng, dự báo xu hướng phát triển. Thứ trưởng Nguyễn Quân cũng cho rằng: “Cách xếp hạng dựa vào những tiêu chí đánh giá của ITU không phản ánh đúng hiện thực phát triển nội tại của Việt Nam, chỉ có ý nghĩa so sánh mức độ phát triển giữa các quốc gia. Như vậy, nó chỉ phản ánh mục tiêu cải thiện thứ hạng mà không phản ánh thực chất mong muốn CNTT trở thành động lực mới cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam”. Cũng theo Đề án, đến năm 2020, Việt Nam sẽ nằm trong số 10 nước cung cấp dịch vụ gia công phần mềm và nội dung số hấp dẫn nhất thế giới. Giáo sư Vũ Đình Cự - Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội lo ngại điều này sẽ không dễ thực hiện: “Nếu làm được như thế, Việt Nam phải thực sự giỏi cả phần mềm và phần cứng. Việt Nam phải thận trọng, phải đánh giá lại mục tiêu đề ra” - ông Cự cho biết. Theo ông Cự, khả năng về sản xuất phần cứng của Việt Nam vẫn ở mức “zero”. Đây đang là trở ngại cho đề án tăng tốc. Cũng từ những trở ngại trên đây thì mục tiêu đến năm 2015, tổng doanh thu từ lĩnh vực CNTT đạt 17-20% GDP, tương đương với hơn 40 tỷ USD khó thực hiện được. Thứ trưởng Nguyễn Quân đưa ra ý kiến: “Cần tập trung vào một số nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực bởi đây là nhân tố để khẳng định sức mạnh thực sự của ngành CNTT. Kèm theo đó là những mục tiêu cụ thể, thể hiện thế mạnh nhân lực này”. Và như vậy, việc phân bổ nguồn lực tài chính để phát triển nhân lực cũng cần phải cân đối lại. Theo dự thảo đề án, kinh phí để dự kiến phát triển nguồn lực CNTT là 210 tỷ đồng, chiếm khoảng 0,148% tổng kinh phí đề án. Nếu cộng cả kinh phí đào tạo chuyên gia an toàn thông tin thì tỷ lệ cũng chỉ đạt khoảng 0,25%. Theo các chuyên gia, đào tạo nhân lực được xác định có mức độ quan trọng tương đương với phát triển hạ tầng. Trong khi việc phát triển hạ tầng viễn thông được xác định là mũi nhọn của Việt Nam trong 5-10 năm tới, được dự kiến đầu tư 131.000 tỷ đồng, chiếm gần 91% kinh phí dự trù của đề án thì sự phân chia này thể hiện rõ sự bất hợp lý. Tiến sĩ Nguyễn Quân cho rằng: “Đề án có mục tiêu rất xa (trên 10 năm) nhưng nội dung công việc lại có tầm nhìn gần, không quá 5 năm, thậm chí còn ngắn hơn”. Ví dụ như nhiệm vụ “Xây dựng mạng truyền số liệu chuyên dùng của Đảng và Nhà nước” là công việc của 2-3 năm trước mắt lại được đưa vào mục tiêu lâu dài. Bên cạnh đó, một số nhiệm vụ của đề án còn thiếu tính khả thi như: hỗ trợ, trang bị thiết bị nghe nhìn, máy tính… cho các hộ có hoàn cảnh khó khăn. Đề án cũng chưa nêu ra được giải pháp phát triển truy cập Internet công cộng tại điểm bưu điện - văn hóa xã.