Theo khoản 1 Điều 250 BLHS hiện hành, người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Điều 1 Thông tư liên tịch số 09/2011 của Bộ Quốc phòng - Bộ Tư pháp - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Bộ Công an - VKSND Tối cao - TAND Tối cao hướng dẫn tội này như sau: “Biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ chứng minh biết được tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội.

Thực tiễn áp dụng, các cơ quan tố tụng còn nhận thức khác nhau về tội này. Đã có vụ CQĐT khởi tố bị can nhưng VKS không phê chuẩn với lý do người chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không biết rõ ai trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội để có được tài sản đó nên chưa đủ căn cứ để khởi tố.

Để giải quyết vướng mắc, Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an) đã xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn xử lý của lãnh đạo ba ngành tư pháp trung ương. Sau đó, lãnh đạo VKSND Tối cao và TAND Tối cao thống nhất quan điểm như sau: Về ý thức chủ quan thì chỉ bắt buộc người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết tài sản đó do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có chứ không buộc họ phải biết rõ ai đã trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội để có được tài sản đó... Do đó, nếu đủ chứng cứ chứng minh được người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ biết rõ tài sản mà họ chứa chấp, tiêu thụ là do phạm tội mà có thì có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ.

Mới đây, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã có văn bản đề nghị thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an các tỉnh, thành thống nhất với VKSND, TAND cùng cấp để điều tra, xử lý người có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo đúng hướng dẫn trên.