Nợ công tăng nhanh, áp lực trả nợ lớn đang là vấn đề rất quan trọng đối với an ninh tài chính quốc gia. Trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này đáng lưu ý là do tăng trưởng kinh tế không đạt theo kế hoạch, giá trị tuyệt đối của GDP không như dự toán, hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế không đạt yêu cầu. Nếu không có những giải pháp căn cơ, sẽ khiến nhiều yếu tố quan trọng tác động làm cho tỷ lệ nợ công/GDP tăng.

Chu dong dieu hanh no cong - Anh 1

So sánh tỷ lệ nợ công trong những năm gần đây, đại diện Bộ Tài chính cho biết, năm 2001, nợ công mới chiếm 36,5% GDP; năm 2005, tăng lên 40,8% GDP; năm 2010 là 50% GDP và năm 2015 vọt lên 62,2% GDP. Tốc độ tăng nợ công của giai đoạn 2011-2015 là 18,5%/năm, cao gấp ba lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế. So với mức tăng 9% GDP của giai đoạn 2006-2010 thì tỷ lệ trên là khá cao. Lý giải nguyên nhân, Bộ Tài chính cho biết, mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2015 là 7 - 7,5%, nhưng ngay sau đó, do những nguyên nhân khách quan, nhất là suy thoái của kinh tế thế giới nên năm 2011, Quốc hội đã quyết định điều chỉnh tốc độ tăng trưởng kinh tế 6,5-7%, cùng với đó là tỷ lệ huy động thuế, phí vào ngân sách nhà nước ở mức không quá 22-23%.

Trong thực hiện, giá trị tuyệt đối của GDP cũng không đạt như dự toán và đây chính là yếu tố quan trọng làm cho tỷ lệ nợ công/GDP tăng. Bên cạnh đó, chính hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế cũng không đạt yêu cầu trong khi suốt 5 năm qua, Chính phủ đã thực hiện nhiều chính sách giảm thu để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; cùng với giá dầu thô giảm; cam kết hội nhập quốc tế khiến thu từ xuất nhập khẩu cũng giảm theo,... là những nguyên nhân gốc rễ khiến tỷ lệ nợ công tăng nhanh - Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng nói.

Phân tích rõ hơn về thực tế này, Phó Cục trưởng Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại Võ Hữu Hiển cho biết, chính áp lực huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội đã khiến nợ công tăng nhanh. Việt Nam là một nước đang trong giai đoạn phát triển, cũng như rất nhiều quốc gia khác, buộc phải tăng vay nợ cho đầu tư, nhất là các công trình kết cấu hạ tầng đồng bộ… khiến quy mô nợ công tăng lên. Trong giai đoạn 2001-2005, đầu tư toàn xã hội bình quân là 39% GDP, nhưng sang giai đoạn 2006-2010, tỷ lệ này đạt 42,9% GDP, còn trong 5 năm 2011-2015, mặc dù mức vốn đầu tư toàn xã hội giảm nhưng vẫn duy trì khoảng 32% GDP. Đầu tư ở mức tương đối cao trong khi tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế cho đầu tư chỉ khoảng 25% GDP dẫn đến sự thiếu hụt về nguồn vốn cho đầu tư, đồng nghĩa với việc phải đi vay.

Không những thế, việc điều chỉnh giảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả giai đoạn còn cho thấy, trong khi mức tăng trưởng - cơ sở để tính toán các chỉ tiêu tài khóa, bội chi, vay nợ - giảm thì nhu cầu vay và các chỉ tiêu khác vẫn giữ nguyên, thậm chí, còn phải tăng cường nguồn lực để thúc đẩy, duy trì, ổn định phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội… đã dẫn đến hệ quả tất yếu là tỷ lệ nợ công so với GDP tăng lên. Ngoài ra, việc tỷ giá biến động khó lường cũng làm quy mô nợ của Chính phủ tăng khi quy đổi sang đồng Việt Nam - Phó Cục trưởng Võ Hữu Hiển nói.

Trong các giải pháp hạn chế tốc độ tăng của nợ công, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý trong đó có việc sửa đổi Luật Quản lý nợ công thì việc từng bước tái cơ cấu nợ công, tái cơ cấu lại kỳ hạn và lãi suất nợ công... được coi là “chìa khóa kỹ thuật” quan trọng. Trong cơ cấu nợ công đến cuối năm 2015, nợ Chính phủ chiếm 80,8%, nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm 17,8% và nợ chính quyền địa phương chiếm 1,4%. Ngay trong cơ cấu nợ Chính phủ, tỷ trọng nợ trong nước đang có xu hướng tăng từ 39% năm 2011 lên 57% năm 2015 và tỷ trọng nợ nước ngoài giảm tương ứng từ 61% năm 2011 xuống còn 43% năm 2015, như vậy là phù hợp với Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn đến 2030. Về kỳ hạn, nợ trong nước chủ yếu từ phát hành trái phiếu với kỳ hạn trung và dài hạn đã hạn chế gia tăng áp lực trả nợ trong ngắn hạn, góp phần giảm rủi ro tái cấp vốn. Đối với nợ nước ngoài, vay ODA, vay ưu đãi vẫn chiếm tỷ trọng cao (hơn 94%) với kỳ hạn còn lại bình quân trên 10 năm. Về cơ cấu lãi suất, có thể thấy rõ lãi suất phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn trong nước bình quân giảm từ mức 12%/năm vào năm 2011 xuống còn khoảng 6,5% vào năm 2014 và khoảng 6% vào năm 2015, góp phần thúc đẩy sự phát triển thị trường trái phiếu trong nước. Đối với nợ nước ngoài do các khoản vay ODA, vay ưu đãi chiếm tỷ trọng lớn, lãi suất bình quân tính đến cuối năm 2015 khoảng 2%/năm. Điều đáng nói, cơ cấu của danh mục nợ Chính phủ tập trung vào một số đồng tiền chính bao gồm đồng Việt Nam với tỷ trọng 55%; USD chiếm tỷ trọng 16%; yên Nhật chiếm tỷ trọng 13% và ơ-rô chiếm tỷ trọng khoảng 7%, còn lại là các đồng tiền khác. Theo đó, cơ cấu nợ công của Việt Nam hiện đang từng bước được điều chỉnh theo hướng bền vững hơn.

Ngoài giải pháp trên, để giảm áp lực và bảo đảm an toàn nợ công trong 5 năm tới đây, cần phải có kế hoạch vay trả nợ công 2016-2020 với nhiều giải pháp cụ thể. Tuy nhiên, nợ công không thể giảm ngay mà cần phải có lộ trình. Bộ Tài chính xác định phải giám sát, kiểm soát kỹ các khoản vay mới. Có thể thấy áp lực vay nợ cho phát triển kinh tế - xã hội là rất lớn, vì vậy, để giảm áp lực này trước hết phải xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn trong khả năng cân đối và bảo đảm tính bền vững của chính sách tài khóa; kiểm soát chặt chẽ danh mục đầu tư công và chỉ tập trung đầu tư vào các ngành, lĩnh vực then chốt. Bên cạnh đó, việc thực hiện các chương trình, dự án sử dụng nợ công phải tuân thủ đúng dự toán được giao; tránh hiện tượng điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư, nhất là tăng từ nguồn vốn vay do triển khai chậm trễ, không đúng tiến độ dẫn đến khối lượng tăng lên. Chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng đầu tư công, sử dụng nợ công.

Không những thế, cần phải kiên quyết cắt giảm bội chi NSNN theo lộ trình đã được xác định, tiếp tục giảm bảo lãnh Chính phủ, ưu tiên bố trí nguồn NSNN để trả nợ; thực hiện đồng bộ các giải pháp thúc đẩy phát triển thị trường vốn trong nước nhằm tăng nguồn vay trung và dài hạn cho đầu tư phát triển. Trong hoạt động thường niên, cần cập nhật diễn biến kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế, sự thay đổi thị trường trong và ngoài nước… để chủ động xây dựng phương án điều chỉnh tổng mức vay và hạn mức nợ tương ứng để bảo đảm an toàn nợ công và an ninh tài chính quốc gia. Đồng thời, cần phải phát triển công cụ quản lý rủi ro phù hợp với nghiệp vụ quản lý nợ chuyên nghiệp trên thế giới; tăng cường phân tích, đánh giá về nguồn vay, cơ cấu nợ và kịch bản huy động vốn vay, tránh nợ quá hạn cũng như tránh bị động trong điều hành chính sách nợ.

Trong 10 tháng qua, Việt Nam đã ký 32 Hiệp định vay vốn với tổng trị giá quy đổi khoảng 4.894 triệu USD, trong đó đã giải ngân 2.916 triệu USD tương đương 63.829 tỷ đồng (đạt 64% so với kế hoạch cả năm). Về công tác trả nợ nước ngoài, tính đến 25-10, tổng giá trị chi trả nợ là 183.718 tỷ đồng, trong đó nợ trong nước là 144.813 tỷ đồng, nợ nước ngoài là 38.905 tỷ đồng.

(Nguồn: Bộ Tài chính)