“Có ai nghèo mà nuôi cá bè đâu anh” đó là câu trả lời của anh xe ôm chở chúng tôi xuống làng bè, khi biết chúng tôi muốn đến một hộ nuôi cá bè có nhiều khó khăn để tìm hiểu về cuộc sống của họ. Tuy nhiên, đằng sau câu nói của anh xe ôm còn nhiều ẩn ý. Vài năm trở lại đây, nghề cá bè cứ chông chênh như những chiếc bè cá dập dềnh theo con nước…

Nghề “Bà Cậu”…

Người dân sông nước miền Tây gọi nghề nuôi cá, đánh cá trên sông là nghề “Bà Cậu”. Người làm nghề sông nước tin rằng, Bà Cậu là tổ của nghề đánh bắt thủy hải sản và cũng là người phù hộ độ trì cho họ bình an trên sông nước. Cách gọi “Bà Cậu” là cách gọi tắt của “bảy bà ba cậu” (nhưng thực ra là 4 cậu) gồm bà chúa Tiên, bà chúa Ngọc, bà chúa Xứ, bà chúa Động, bà Cố Hỉ, bà Thủy, bà Hỏa, cậu Trầy, cậu Quý, cậu Lý, cậu Thông. Những bấp bênh trong cuộc sống sông nước khiến họ phải gửi niềm tin vào những đấng thiêng liêng. Nói như anh Sơn, một người nuôi cá bè ở Vĩnh Ngươn, An Giang, nghề nuôi cá bè cũng như con nước, khi lớn, khi ròng, rủi may không lường hết được, vậy nên lúc nào trong lòng cũng van vái Bà Cậu phù hộ để công việc làm ăn được yên ổn, suôn sẻ…

Chong chenh lang be - Anh 1

Làng bè trên ngã ba sông Châu Đốc, An Giang.

Nghề cá bè ở An Giang được hình thành từ những năm 60 của thế kỷ trước, những người nuôi cá bè kì cựu ở đây kể lại, cả cái xứ Châu Đốc, ngày xưa chỉ có 3 - 4 cái bè làm bằng tre, để dưới nước, kiểu như lồng cá. Do nguồn nước ngày xưa còn tốt, nên cá thả vô bè không cần cho ăn, cá lớn tự nhiên như đang sống dưới sông. Từ những năm 70 trở đi, người nuôi bè bắt đầu nhiều lên, nguồn dinh dưỡng tự nhiên trong nước cũng kém đi, cộng với áp lực về hiệu quả kinh tế, nên người nuôi cá bè mới bắt đầu kết hợp cho ăn thức ăn. Bè cá cũng từ đó được làm kiên cố hơn, rộng hơn. Thay vì làm bằng tre như trước đây, phần vách dọc và đáy bè được đóng ván. Khung bè được thiết kế chắc chắn với đầy đủ các thanh đà ngang, đà dọc, bổ đứng, bổ ngang. Phần trước và sau bè là mặt lưới để nước lưu thông chảy qua bè. Trên bè có cất nhà để ở, giữ và chăm sóc cá. Hệ thống phao nổi nâng bè cũng được cải tiến, sử dụng các vật liệu như thùng phuy, các thùng bằng cây gỗ hình hộp rỗng…

Thời hoàng kim của cá bè bắt đầu từ khoảng năm 1990, khi ấy vùng Châu Phú, Phú Tân, Chợ Mới, Vĩnh Ngươn phải có trên 2.000 bè cá, sản lượng trung bình phải trên 20.000 tấn/ năm, chủ yếu là cá tra, cá ba sa phục vụ xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào nuôi cá bè đã giúp năng suất nuôi tăng cao, hiệu quả kinh tế lớn, chủng loại cá nuôi cũng đa dạng hơn. Thay vì chỉ cá tra, ba sa, người nuôi cá bè An Giang đã bắt đầu nuôi cả cá bống tượng, cá mè dinh… Vài năm trở lại đây, sông Mê Kông cạn dòng, nguồn nước ô nhiễm, nghề nuôi cá bè cũng èo uột từ đó, người bỏ nghề lên bờ, người gồng gánh nợ nần, thấp thỏm theo từng con nước… làng bè trở nên hiu quạnh hơn.

Và những nỗi lo...

Nước chảy một mái là những ngày vui mừng của người nuôi cá bè. Đó là những ngày không có nước lên, nước ròng, mà chỉ có nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ xuống. Dù không thể gọi là lũ, nhưng con nước đổ về đều đặn trong mùa nước nổi, giúp người mưu sinh bằng nghề đánh bắt thu được một ít sản vật. Người nuôi cá bè cũng an tâm vì con nước tốt, cá sẽ mau lớn hơn, ít nguy cơ hơn. Vì vậy mà họ chờ đợi mùa nước nổi và mong nước cứ chảy một mái, dù biết, mùa nước nổi ngày càng ngắn ngủi hơn…

Chong chenh lang be - Anh 2

Cho cá ăn.

Nghề cá bè giờ chịu nhiều áp lực. Năm nay, ngay mùa nước đổ thì dòng nước cũng trong vắt, không có phù sa, cá con cũng ít. Nguồn nước này chỉ giúp cho cá không bị thiếu ôxy, mát mẻ, chứ không bổ sung thức ăn, dinh dưỡng gì cho cá. Nhưng được như vậy đã là may mắn rồi. Anh Ngời, một chủ bè trên ngã ba sông Châu Đốc chia sẻ, chỉ cần lãi khoảng 3.000 đồng/kg cá thôi là dân bè mừng lắm rồi. Năm nay, nước đổ về nhiều hơn năm ngoái, cá lớn nhanh hơn, nhưng giờ bán không được giá. Chủ bè phải nài nỉ, thương lái mới chịu tới mua, giá chỉ hòa vốn 28.000 đồng/kg. Đó là khi dân bè tự mình mua cá, mua cám về chế biến thức ăn, còn nếu nuôi bằng thức ăn công nghiệp thì chắc chắn lỗ.

Bám trụ với làng bè từ nhiều đời, nhưng anh Ngời cũng nói thật: “Giờ mình lên bờ không biết làm gì, mình cũng lớn tuổi rồi, còn con cái, tôi cho lên bờ làm ăn hết, không cho theo nghề bè vì cực lắm, bấp bênh lắm. Năm nay có lãi, nhưng năm sau trắng tay là thường. May mắn, vợ chồng tôi cũng tích cóp, để dành, mùa nào bán cá có lãi thì đầu tư mua một hai công đất vườn, để sau này dưỡng già, chứ không dám đầu tư làm ăn lớn nữa”.

Đóng mới bè cá mất khoảng 500 triệu đồng, vốn đầu tư cho một năm cũng khoảng 1,5 tỷ đồng, vụ nào may mắn lãi khoảng vài chục đến 100 triệu đồng, nhưng chỉ cần một hôm ngủ quên, không chạy máy bơm tạo dòng chảy những lúc nước đứng, cả bè cá có thể chết hết vì thiếu ôxy, là sẽ trắng tay. Nhiều hộ vay nợ để làm bè, xong thất bại một hai vụ rơi vào cảnh nợ nần. Vậy nên, có lẽ anh xe ôm nói đúng, có ai nghèo mà nuôi cá bè đâu, nhưng nuôi cá bè xong… nghèo, thì nhiều lắm.

Bài và ảnh: Lê Hiền