Sáng 20/10, ngay sau phiên khai mạc kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIV, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trình bày trước Quốc hội Báo cáo về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2016 và nhiệm vụ năm 2017. Báo Đầu tư xin trân trọng giới thiệu toàn văn bản Báo cáo này.

Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các vị khách quý,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa đồng bào, cử tri cả nước,

Theo Chương trình Kỳ họp, Chính phủ đã gửi đến các vị đại biểu Quốc hội các báo cáo về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2016 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán NSNN năm 2017; các kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế, tài chính – NSNN, đầu tư công trung hạn và định hướng huy động, sử dụng vốn vay, quản lý nợ công giai đoạn 2016 - 2020 và 33 báo cáo chuyên đề khác. Thay mặt Chính phủ, tôi xin báo cáo Quốc hội và đồng bào, cử tri cả nước những nội dung chủ yếu về tình hình kinh tế - xã hội năm 2016 và nhiệm vụ năm 2017 như sau:

A. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2016

Bên cạnh những thuận lợi, chúng ta đã đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Tăng trưởng kinh tế, thương mại toàn cầu thấp hơn so với dự báo; giá nhiều hàng hóa cơ bản và giá dầu thô ở mức thấp [1] . Tình hình Biển Đông phức tạp. Biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn dự báo. Thiên tai, rét đậm, rét hại ở phía Bắc, hạn hán kéo dài ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, xâm nhập mặn chưa từng có ở đồng bằng sông Cửu Long, bão lũ và sự cố ô nhiễm môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung đã ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế - xã hội nước ta, nhất là sản xuất và đời sống của người dân.

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo triển khai toàn diện, đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2016, đồng thời tập trung ban hành các cơ chế, chính sách phát triển cho giai đoạn 2016 - 2020. Với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp , tình hình kinh tế - xã hội nước ta chuyển biến tích cực và đạt được kết quả quan trọng trên hầu hết các lĩnh vực.

Chinh phu dat muc tieu tang truong GDP nam 2017 la 6,7% - Anh 1

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trình bày Báo cáo về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2016 và nhiệm vụ năm 2017 trước Quốc hội Ảnh: Nhật Bắc - Chinhphu.vn.

I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Kinh tế vĩ mô ổn định, các cân đối lớn cơ bản được bảo đảm

Chính phủ đã tập trung chỉ đạo, điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ và các chính sách khác để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 9 tháng tăng 3,14%, cả năm ước tăng khoảng 4% [2] . Việc điều chỉnh giá theo cơ chế thị trường đối với dịch vụ giáo dục, y tế được chuẩn bị kỹ và điều hành phù hợp, không gây ảnh hưởng lớn đến mặt bằng giá [3] .

Nợ xấu tiếp tục được xử lý gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, bảo đảm thanh khoản và an toàn hệ thống. Tín dụng đối với nền kinh tế đến nay tăng 11,24%. Một số tổ chức tín dụng tiếp tục giảm lãi suất huy động và cho vay khoảng 0,5 - 1,5% [4] . Tỷ giá và thị trường ngoại tệ, thị trường vàng ổn định; dự trữ ngoại hối đạt trên 40 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.

Quản lý chặt chẽ, chống thất thu ngân sách, chuyển giá, giảm nợ đọng thuế và tăng cường kiểm soát, tiết kiệm chi NSNN. Tổng thu NSNN 9 tháng đạt 70,8% dự toán; ước cả năm tăng 2,4%; bội chi giữ bằng mức Quốc hội thông qua (theo giá trị tuyệt đối).

Huy động vốn cho đầu tư phát triển được đẩy mạnh. Trong 9 tháng, vốn FDI thực hiện tăng 12,4%; vốn ODA và vay ưu đãi giải ngân đạt khoảng 2,7 tỷ USD [5] . Mức vốn hóa thị trường chứng khoán đạt 63% GDP, cao nhất từ trước đến nay; vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tăng mạnh [6] . Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước cả năm đạt 32,5% GDP (kế hoạch là 31,5%).

Đã thực hiện nhiều biện pháp thúc đẩy xuất khẩu trong bối cảnh tăng trưởng thương mại toàn cầu và khu vực giảm mạnh. Tổng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng tăng 6,7%, trong đó xuất khẩu nhóm hàng nông lâm thủy sản tăng 7,4% (cùng kỳ giảm hơn 10%); xuất siêu 2,8 tỷ USD. Ước cả năm xuất khẩu tăng 6 - 7% [7] . Công tác quản lý thị trường, giá cả, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại được tăng cường; bảo đảm tốt cung cầu các mặt hàng thiết yếu, không để xảy ra thiếu hàng, sốt giá.

2. Tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Chính phủ luôn đề cao phương châm lời nói đi đôi với hành động, rút ngắn khoảng cách giữa nói và làm; đã tổ chức Hội nghị với doanh nghiệp, ban hành Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, Nghị quyết 35 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, Nghị quyết 60 về đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công. Thực hiện các giải pháp thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp , tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý kịp thời hơn các kiến nghị của người dân, doanh nghiệp, đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Có chính sách đặc thù để tạo đột phá phát triển cho nhiều địa phương. Công tác xúc tiến đầu tư được triển khai hiệu quả hơn. Thời gian làm thủ tục đăng ký doanh nghiệp rút ngắn còn 1 - 3 ngày. Trong 9 tháng, có trên 81 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và trên 20 nghìn doanh nghiệp hoạt động trở lại [8] . Đã tạo được niềm tin và không khí phấn khởi của người dân, nhà đầu tư, doanh nghiệp.

Tăng trưởng kinh tế quý sau cao hơn quý trước, 9 tháng tăng 5,93% [9] . Khu vực nông nghiệp đang phục hồi, 9 tháng tăng 0,65% (quý I giảm 1,23%, 6 tháng giảm 0,18%). Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,2%. Khu vực dịch vụ tăng 6,66%, cao hơn cùng kỳ [10] . Khách quốc tế đạt 7,26 triệu lượt, tăng 25,7%, cả năm đạt khoảng 9,6 triệu. Tăng trưởng kinh tế cả năm ước đạt 6,3 - 6,5% [11] .

3. Tái cơ cấu kinh tế đạt được một số kết quả bước đầu

Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp tái cơ cấu kinh tế, tập trung vào các trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công, các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Trình Quốc hội Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế, Kế hoạch tài chính - NSNN và Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020. Triển khai 02 chương trình mục tiêu quốc gia và 21 chương trình mục tiêu [12] . Tiếp tục cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu, nhất là các tổ chức tín dụng yếu kém [13] . Tổng kết 10 năm thực hiện tái cơ cấu DNNN, xây dựng Đề án tổng thể cho giai đoạn 2016 - 2020 và Đề án thành lập cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Chỉ đạo đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn và thực hiện đấu giá, niêm yết trên thị trường chứng khoán, bảo đảm công khai minh bạch, không để thất thoát vốn và tài sản của Nhà nước [14] .

Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh. Từng bước tổ chức lại sản xuất, mở rộng quy mô; tăng cường hợp tác, liên kết, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ thích ứng với biến đổi khí hậu; nhân rộng các mô hình hiệu quả. Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả. Đến nay đã có 27 đơn vị cấp huyện và 2.061 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 23%. Đến hết năm 2016, dự kiến có 30 đơn vị cấp huyện và khoảng 2.200 xã đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm khoảng 25%).

Tiếp tục triển khai tái cơ cấu các ngành công nghiệp, dịch vụ theo hướng tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh. Thực hiện các chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch. Cơ cấu nội ngành công nghiệp chuyển dịch tích cực [15] . Tập trung phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế (như du lịch, viễn thông, công nghệ thông tin...). Tổ chức Hội nghị toàn quốc về du lịch và xây dựng Đề án định hướng phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

4. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người dân

Đã hoàn thành việc hỗ trợ về nhà ở cho gần 84 nghìn gia đình người có công theo Nghị quyết của Quốc hội; tiếp tục tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, học sinh sinh viên và các chính sách hỗ trợ giảm nghèo khác được tiếp tục quan tâm thực hiện [16] . Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều đến cuối năm 2016 giảm còn khoảng 8,5% [17] . Thực hiện tốt chính sách bảo trợ xã hội; đã xuất cấp trên 92 nghìn tấn gạo cứu trợ đột xuất và hỗ trợ học sinh vùng khó khăn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 53%, trong đó đào tạo 3 tháng trở lên có chứng chỉ đạt 21%. Chất lượng dạy nghề được cải thiện, đứng thứ 3 cuộc thi tay nghề ASEAN. Trong 9 tháng, đã tạo việc làm cho gần 1,2 triệu người [18] . Năng suất lao động xã hội tăng khoảng 5,5% [19] . Tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội đạt 12,8 triệu, bảo hiểm thất nghiệp đạt 10,8 triệu. Tiếp tục thực hiện các cơ chế, chính sách thúc đẩy hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội [20] .

Tăng cường y tế dự phòng; chất lượng khám chữa bệnh và giảm quá tải bệnh viện từng bước được cải thiện. Tập trung nâng cấp, xây mới một số bệnh viện tuyến trung ương, tuyến cuối và các cơ sở y tế vệ tinh [21] . Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, luân chuyển và đào tạo cán bộ cho tuyến dưới. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong khám chữa bệnh; kết nối mạng hơn 14 nghìn cơ sở y tế. Triển khai Hội nghị toàn quốc về đẩy mạnh bảo hiểm y tế toàn dân; dự báo đến cuối năm 2016 tỷ lệ tham gia đạt 80 - 81%; phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 90% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Tổ chức Hội nghị toàn quốc và quyết liệt chỉ đạo bảo đảm an toàn thực phẩm. Đổi mới công tác quản lý, sửa đổi quy định về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điều trị nghiện bằng thuốc thay thế.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Ban hành khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và khung trình độ quốc gia. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực trong đồng bào dân tộc thiểu số; hoàn thiện chính sách hỗ trợ học sinh, kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên ở xã, thôn bản đặc biệt khó khăn. Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đạt 84,1%, đã có 53/63 tỉnh, thành phố đạt chuẩn. Đổi mới phương pháp dạy học, thi, kiểm tra, đánh giá theo năng lực, phẩm chất người học và quá trình học tập. Tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia và tuyển sinh đại học, cao đẳng, bảo đảm nghiêm túc, an toàn, thuận lợi. Tăng cường kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học. Thực hiện chủ trương xã hội hóa trường công lập; đã có 17 trường đại học, cao đẳng công lập thực hiện cơ chế tự chủ. Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ [22] . Quy hoạch mạng lưới, ban hành và triển khai cơ chế tự chủ các tổ chức khoa học công nghệ công lập. Tạo thuận lợi thúc đẩy phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học công nghệ. Phê duyệt, triển khai Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”. Đẩy mạnh phát triển thị trường khoa học công nghệ, tăng cường kết nối, tổ chức chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) [23] .

Phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa được đẩy mạnh. Nhiều di tích, giá trị văn hóa, lịch sử, bản sắc dân tộc được bảo tồn và phát huy. Đạt thành tích cao trong hoạt động thể thao quốc tế; lần đầu tiên giành 02 huy chương vàng Olympic thế giới; tổ chức thành công Đại hội thể thao bãi biển châu Á lần thứ V tại Việt Nam và đạt kết quả đứng thứ nhất toàn đoàn. Chú trọng công tác người cao tuổi, nhân rộng mô hình câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau. Xây dựng trình Quốc hội Luật trẻ em, Luật tôn giáo, tín ngưỡng. Công tác gia đình, vì sự tiến bộ của phụ nữ; chính sách dân tộc tiếp tục được quan tâm thực hiện. Ký kết và triển khai thực hiện Quy chế, Chương trình phối hợp giữa Chính phủ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Dân vận Trung ương. Thông tin truyền thông được đẩy mạnh, nhất là phục vụ Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các sự kiện quan trọng của đất nước.

5. Ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên

Đã chủ động tập trung ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, nhất là hạn hán ở miền Trung, Tây Nguyên, xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và bão, lũ ở miền Bắc, miền Trung [24] . Chỉ đạo thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống hạn và xâm nhập mặn. Triển khai những dự án trọng điểm ứng phó với biến đổi khí hậu. Tăng cường phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ.

Công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường được chú trọng. Tổ chức Hội nghị toàn quốc, ban hành Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường. Hoàn thành giai đoạn 1 việc xử lý ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng. Khẩn trương, chủ động chỉ đạo xử lý sự cố môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung; thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ sản xuất, đời sống, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ngoài số gạo xuất cấp và tiền hỗ trợ từ NSNN, sau khi nhận được tiền bồi thường của Formosa, đã có phương án tổng thể và tạm ứng 3.000 tỷ đồng cho 4 tỉnh để chi trả cho người dân. Đồng thời chỉ đạo kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan trong vụ việc này. Công tác bảo vệ, phát triển rừng gắn với giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp tục thực hiện; kiên quyết đóng cửa rừng tự nhiên, xử lý nghiêm các vụ phá rừng. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2016 ước đạt 41,15% (kế hoạch là 41%). Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường là 86% (chỉ tiêu đề ra là 85%).

6. Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí

Xây dựng, trình Quốc hội 20 dự án Luật, Pháp lệnh; ban hành 103 Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành pháp luật, đặc biệt là đối với Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp; khắc phục cơ bản tình trạng nợ đọng văn bản. Ban hành và triển khai thực hiện Kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2016 – 2020. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Các địa phương tiếp tục triển khai có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông, góp phần nâng cao tính công khai minh bạch, giảm thời gian, tiết kiệm chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Khẩn trương kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới quy chế làm việc; ban hành Chỉ thị tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp. Đã ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ, Nghị định khung và quyết tâm hoàn thành các nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ ngay trong năm 2016. Thành lập và phát huy vai trò của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ; hình thành cơ chế thường xuyên kiểm tra, đôn đốc thực hiện nhiệm vụ được giao đối với các ngành, các cấp.

Tổng kết 10 năm thực hiện, xây dựng dự án Luật phòng, chống tham nhũng (sửa đổi). Nghiêm túc triển khai các kết luận của Tổng Bí thư, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng. Ban hành Chỉ thị tăng cường phát hiện, xử lý vụ việc tham nhũng. Nhiều vụ án tham nhũng lớn, xã hội quan tâm đã được đưa ra xét xử [25] . Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra [26] . Tập trung chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là các vụ khiếu kiện phức tạp, tồn đọng, kéo dài [27] .

7. Giữ vững chủ quyền quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội

Quốc phòng, an ninh được tăng cường; chủ quyền quốc gia, biển đảo được giữ vững. Nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển; theo dõi sát, xử lý kịp thời các tình huống xảy ra. Thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh, nhất là trên các địa bàn trọng điểm. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn việc kích động, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bảo đảm tuyệt đối an toàn các sự kiện trọng đại của đất nước. Đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tội phạm [28] . Tăng cường các giải pháp phòng chống cháy nổ; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, tai nạn giảm cả 3 tiêu chí [29] .

8. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều kết quả

Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh; đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả. Tăng cường đối ngoại song phương, tạo lợi ích đan xen; tổ chức thành công các chuyến thăm nước ngoài của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đón tiếp các đoàn cấp cao nước ngoài thăm Việt Nam. Triển khai hiệu quả đối ngoại đa phương; chủ động, tích cực tham gia các Hội nghị, diễn đàn cấp cao quốc tế và khu vực. Phản ứng kịp thời, phù hợp với các diễn biến tình hình Biển Đông. Triển khai Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế và xây dựng Đề án thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định kinh tế - xã hội trong bối cảnh tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Đến nay, đã có 64 nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường. Chính phủ đã hoàn tất các thủ tục, trình phê chuẩn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Chinh phu dat muc tieu tang truong GDP nam 2017 la 6,7% - Anh 2

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu trước Quốc hội sáng 20/10. Ảnh: Nhật Bắc Chinhphu.vn

II. HẠN CHẾ, YẾU KÉM

1. Tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm đạt thấp so với cùng kỳ (5,93% so với 6,5%). Khu vực nông nghiệp chỉ tăng 0,65% (cùng kỳ 2,08%). Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 7,4% (cùng kỳ 9,9%); trong đó công nghiệp khai khoáng giảm 4,1% (cùng kỳ tăng 8,6%). Dự báo tăng trưởng GDP cả năm thấp hơn kế hoạch đề ra (6,7%). Sản xuất kinh doanh còn nhiều khó khăn; trong 9 tháng có khoảng 45 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và trên 8,3 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể. Tăng trưởng kinh tế không đạt kế hoạch sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu khác, trong đó tỷ lệ bội chi NSNN, nợ công, nợ Chính phủ so với GDP có thể cao hơn dự kiến.

2. Xuất khẩu 9 tháng chỉ tăng 6,7% (cùng kỳ tăng 9,1%), dự báo cả năm xấp xỉ đạt kế hoạch; trong đó xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng thấp, chỉ đạt 8,5% (cùng kỳ 18,6%); xuất khẩu vào khu vực ASEAN giảm 9,1% [30] . Quản lý thị trường trong nước và thương mại biên giới có mặt còn bất cập. Buôn lậu, gian lận thương mại diễn biến phức tạp; mới giải quyết được bước đầu tình trạng vật tư nông nghiệp giả, kém chất lượng; diễn ra nhiều vụ lừa đảo bán hàng đa cấp, tín dụng đen, gây bức xúc xã hội.

3. Thu ngân sách khó khăn, 9 tháng đạt thấp hơn cùng kỳ (70,8% so với 74,9%), trong đó thu ngân sách trung ương chỉ đạt 61%; nợ đọng thuế còn lớn. Triển khai kế hoạch vốn đầu tư công chậm. Một số dự án sử dụng vốn đầu tư công hiệu quả thấp; nợ đọng xây dựng cơ bản lớn. Quản lý sử dụng tài sản công, chi tiêu công còn lãng phí. Nợ công cao, áp lực trả nợ lớn.

4. Tái cơ cấu nhiều ngành, lĩnh vực còn chậm. Xử lý nợ xấu và các ngân hàng thương mại yếu kém gặp nhiều khó khăn, kết quả thấp [31] . Các thị trường vốn, chứng khoán, bất động sản phát triển chưa bền vững. Tái cơ cấu, cổ phần hóa DNNN, thoái vốn đầu tư ngoài ngành chưa đạt kế hoạch. Số lượng doanh nghiệp được cổ phần hóa lớn nhưng tỷ lệ vốn bán ra đạt thấp. Một số DNNN kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài, chưa công khai minh bạch kết quả sản xuất kinh d