Làm bảo vệ tại bệnh viện huyện, song Trịnh vẫn “chém gió” là có thể xin được việc làm vào nhiều cơ quan khác nhau nhằm chiếm đoạt gần 1 tỷ đồng.

Theo báo An ninh thủ đô, mới đây, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử Nguyễn Xuân Trịnh (SN 1975, trú ở thôn Bắc Vọng, xã Bắc Phú, Sóc Sơn, Hà Nội) về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản , theo khoản 4, Điều 139-BLHS.

"Chem gio" quan he rong, bao ve benh vien chiem doat gan 1 ty - Anh 1

Bị cáo Nguyễn Xuân Trịnh tại phiên tòa - Ảnh: báo CAND

Báo Công an nhân dân thông tin, theo cáo trạng của Viện KSND TP Hà Nội, đầu năm 2013, Trịnh làm bảo vệ tại Bệnh viện Đa khoa huyện Sóc Sơn.

Thời gian này, Trịnh thường gặp ông Nguyễn Văn Vững (ở huyện Sóc Sơn) đưa con gái đến chữa bệnh. Từ những lần gặp gỡ ấy, Trịnh và ông Vững dần chuyện trò thân thiết hơn. Biết gia cảnh ông Vững khó khăn nên Trịnh bịa ra chuyện có thể xin được bảo hiểm y tế (thuộc diện hộ nghèo) cho con gái ông Vững. Đổi lại, Trịnh yêu cầu ông này phải đưa cho anh ta 15 triệu đồng chạy bảo hiểm y tế hộ nghèo.

Lừa đảo được số tiền ban đầu, Trịnh tiếp tục khoác lác rằng có thể xin cho con dâu ông Vững vào làm y tá ngay tại bệnh viện huyện với chi phí 30 triệu đồng. Và một lần nữa ông Vững lại đi vay mượn họ hàng, làng xóm để có đủ 30 triệu đồng đưa cho Trịnh.

Chờ đợi nhiều lần quá hẹn mà không thấy Trịnh thực hiện được như đã hứa, ông Vững đã tố cáo hành vi lừa đảo của Trịnh.

Nạn nhân tiếp theo của Trịnh là chị Nguyễn Thị Hường (ở huyện Sóc Sơn). Đầu năm 2015, chị Hường ra Sân bay Nội Bài đón người thân. Trong lúc chờ đợi, chị Hường tình cờ gặp Trịnh tại đây.Trịnh nói dối với chị Hường mình là nhân viên an ninh Sân bay Nội Bài nên có thể xin được việc làm cho người khác vào Sân bay Nội Bài cũng như tại Bệnh viện Đa khoa huyện Sóc Sơn với chi phí hợp lý. Chị Hường xin số điện và hẹn sẽ gặp lại Trịnh để trao đổi thêm.

Mong muốn những người em vừa học xong được vào làm ở bệnh viện huyện và Sân bay Nội Bài, từ tháng 2 đến tháng 4/2015, chị Hường nhiều lần đưa cho Trịnh tiền với tổng số 190 triệu đồng. Vậy nhưng sau khi đưa tiền một thời gian, chị Hường mới biết mình bị lừa đảo.

Ngoài lừa đảo ông Vững và chị Hường, cũng với thủ đoạn trên, Trịnh còn lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 7 bị hại khác.

Cũng theo báo An ninh thủ đô, tài liệu truy tố bị cáo xác định, từ năm 2013 đến tháng 4/2015, Trịnh đã chiếm đoạt được 865 triệu đồng của 9 người bị hại, chủ yếu ở địa bàn huyện Sóc Sơn. Về số tiền lừa đảo này, đối tượng trình bày đã ăn tiêu cá nhân hết nên không còn khả năng khắc phục hậu quả.

Mở tòa vào ngày 30/11, TAND TP Hà Nội khẳng định, mặc dù không có chức năng, khả năng, song bị cáo vẫn hứa hẹn và nhận tiền xin việc làm, rồi chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 4, Điều 139-BLHS. Trên cơ sở đó, Tòa án Hà Nội đã quyết định tuyên phạt Nguyễn Xuân Trịnh 14 năm tù giam.

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ năm 2009):

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Chú ý: Thông tin pháp lý trong hộp nội dung này được trích từ nguồn trên mạng Internet, nên chỉ mang tính tham khảo

(Tổng hợp)