(VOV) - Từ đêm đó họ ăn ở với nhau như vợ chồng. Người đàn bà vào tuổi năm mươi, người đàn ông ba mươi bảy. Một đô vật khỏe nhất nước và một cô gái già quá lứa lỡ thì.

Nghe Đình Khánh đọc truyện:

Năm nay, đó là giấc mơ về một người đàn bà biểu trưng cho hình ảnh quật cường của Người Mẹ Việt, đã sinh thành, nuôi dưỡng và chở che cho ngàn vạn cánh đồng, đến lúc nhắm mắt vẫn chưa nguôi khát vọng sinh sôi nảy nở. Bà chúa ấy chưa bao giờ khuất bóng, cứ mỗi heo may, bà lại tìm về với cánh đồng như con chim ngói tháng Mười bay về với mùa màng muôn thuở... Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Cứ như các cụ truyền lại thoạt kỳ thủy đồng làng ta được gọi là đồng bà chúa. Thuở ấy làng thưa vắng lắm trên dưới vài mươi nóc nhà, nhà nào cũng chỉ tranh tre mành liếp, phần lớn ruộng vườn là của bà chúa cả. Ruộng bà miên man từ núi ra soi từ soi qua bãi từ bãi vào đê. Một miền đất lần lần thành trù phú, theo năm tháng con cháu cứ đông đàn dài lũ, nhà lên san sát chen chúc nhau mà sống. Đình to chùa miếu đẹp, cây cối xanh tươi, khách xa đến thăm không ai là không bày tỏ mến mộ.

Nói thế là để nhớ đến những bậc tiền nhân đã dày công vun đắp nên làng, là để nhớ đến người đàn bà đã một mình đi tiên phong mở mang, nếm trải nhiều vất vả và đã được tổ tiên kính cẩn tôn làm thành hoàng. Làng nào có thành hoàng làng ấy, miền này chỉ riêng làng ta có thành hoàng nữ, dễ thường như thế vẫn chưa đủ để những ai sống có ý tứ phải dừng chân ngẫm nghĩ hay sao.

Quanh vùng có nhiều miền đất rộng, rộng nhất là vùng đất phong của Đức Thánh Trần, nhưng đất Ngài là do vua ban, chứ đất bà chúa là do bà tự tay khai phá lấy.

Các nhà trong làng thường vài năm mới một lần ra chợ mua sắm sửa chữa cuốc cày nông cụ, riêng nhà bà năm một lần, mà mua nhiều, mỗi thứ hai ba cái. Lưỡi cuốc lưỡi cào liềm hái dao dựa bỏ đi được ném cả vào một đống to như đống rơm trong góc vườn.

Bà thường tha thẩn suốt ngày suốt tháng ngoài đồng, thân hình cao lớn như ông hộ pháp, sức lực hơn người, sự khôn ngoan hơn người, tâm tính càng hơn người. Người được thế hiếm lắm. Ra đồng gặp chỗ nào còn hoang hóa bà liền lội vào cắm đầu cuốc, có khi cuốc thông đêm, cuốc xong nếu có ai yếu đuối không bằng anh bằng em ngang qua bà vẫy lại bảo, tôi vỡ giúp vợ chồng nhà anh chỗ này, mai mang mấy hạt ngô hạt đậu ra gieo, không khéo tính toán đến kỳ giáp hạt đói đấy.

Gặp ngày mưa đường đất có đoạn lầy trơn, bà dừng lại lấy bàn chân gạt bùn chỉ một chốc đã sạch. Trưa hè đổ lửa lũ trẻ con xúm xít nấp vào sau lưng bà tìm bóng mát. Những vết chân bà để lại khắp đồng ai cũng dễ nhận ra. Bà sống một mình không chồng không con, đám đàn ông chê bà cao lớn quá khổ, bà chê lại họ thấp bé quá khổ.

Chỉ biết bà là người lắm trâu nhiều ruộng, đã nhiều ruộng phải lắm thóc, lắm thóc thì lắm bạc. Bạc của bà đầy chum đầy vại. Và bà sống hào phóng. Năm nào tết ra bà cũng mời bô lão trong làng tới nhà ăn cỗ bàn chuyện mở hội làng. Hội hè vùng ta xét cho kỹ tuy nhiều nhưng thường tủn mủn đơn điệu lại ít màu sắc riêng, quanh quẩn vài trò vặt, cây đu, bơi sải, chèo thuyền thúng bắt vịt, đánh cờ, chọi gà... nhiều đấy mà vẫn không thể lớn. Bà chúa là người lớn hiểu theo nhiều nghĩa. Một tết bà bảo xuân này ta phải làm một hội làng sao cho thật tưng bừng, treo giải to gọi các đô thiên hạ. Các cụ vào kinh mời cho bằng được ông trạng vật về để làng một lần được gặp, ông ấy cũng là người sang của nước đấy. Năm nay tôi bước vào tuổi năm mươi, thế là lên lão rồi, tôi muốn làng làm hội đủ ba ngày, ngày nào cũng phải đông vui, khách thập phương phải nhiều, cỗ bàn trân trọng, già trẻ ai cũng có khăn áo mới. Nghe thế khắp làng từ hôm đó đã như vào hội.

Thuở ấy nước nhà có đủ các thứ trạng, đã có trạng văn còn có trạng võ rồi trạng vật trạng lợn. Cho mãi đến thời Nguyễn mới có lệnh bãi việc tuyển trạng chứ tính ra suốt từ Lý qua Trần tới Lê phải có vài trăm ông chứ không ít. Nhiều nhất vẫn là trạng văn thứ đến trạng võ trạng vật, duy nhất một ông trạng lợn. Sử sách ghi chép rất sơ sài, nhiều thời vừa ghi vừa đốt. Mỗi lúc nói một khác, sử thời sau xóa sử thời xưa, cũng không ai còn nhớ trạng lợn tên họ là gì quê xứ nào, chỉ nghe kể đó là một anh hoạn lợn, một hôm ngang qua cổng thành thấy trong cung đang cháy lớn, quan quân bỏ chạy lung tung bèn đánh bạo nhảy vào ghé vai cõng một lúc mấy chục người đang khóc gào thảm thiết mang cả ra ngoài sân rồng. Trong đám người nhếch nhác ấy hóa ra có vua. Bình tâm nhà vua mới hỏi, ngươi từ đâu đến kinh thành? Thưa kẻ nghèo hèn làm nghề thiến lợn, lang thang đây đó, thấy cháy nhảy vào cứu được ai thì cứu. Người có công cứu giá nay ta muốn ban thưởng vậy người ước điều gì? Kẻ tôi đòi văn dốt võ dát một chữ bẻ đôi chẳng có chắc không làm nổi việc gì ngoài thiến lợn, từ bé chỉ ước ao giá mà mình được gọi là trạng thôi.

Nhà vua nghe xong thì ngần ngừ một lát, rồi mỉm cười, được, vậy ngươi sẽ là trạng. Sắp tới có khoa thi tiến sĩ đợi đến ngày yết bảng ngươi nhớ phải đến cổng ngọ môn. Ngày thi sĩ tử bốn phương lều chõng ùn ùn kéo về, lúc họ bó gối làm bài trạng lợn léng phéng đi thiến lợn ở các làng, đến buổi tuyên chiếu anh ta vác cái thòng lọng chen văng mạng vào chỗ treo bảng vàng, nhờ một học trò đứng gần tìm giúp tên mình. Quả là có, đúng là mình, trạng nguyên thật rồi.

Đám sĩ tử thấy thế thì kinh hãi ra mặt, hỏi sao lại có sự thể này, như thế này liệu đã phải là làm nhục quốc sỉ hay chưa? Chuyện đến tai nhà vua, lúc ấy vua đang ngồi trong hậu cung uống rượu quê nhai chân chó mới ậm ừ bảo, quốc sỉ quốc siếc đếch gì, sao lúc cháy trẫm không thấy bóng ai trong số họ nhảy vào lửa cõng trẫm, cõng cả nhà trẫm? Ra bảo họ quốc trước hết là của trẫm chứ đâu đã là của họ mà cứ rối cả lên.

Người đời thường nói phàm cái gì đã hiếm thì đều quý, trạng lợn là một trường hợp rất hi hữu, nhưng có là quý hay chưa lại còn phải tùy vào cách bàn của mỗi người. Những chuyện tương tự như vậy vẫn thường thấy có ở mọi thời, ở mọi cuộc tuyển hiền cắt cử, gọi chung là ân trạng ân cống, ân nghè. Nghĩ cũng chả có gì mà phải tị, mà cũng chả nên lấy thế làm lạ.

Trở lại với mấy ngày hội làng. Mùa xuân năm ấy sau tết các cụ vào kinh rước được ông trạng vật đúng như sở nguyện của bà chúa. Trạng ngồi kiệu son, mũ cánh chuồn áo sa đỏ chân xỏ hia nom lụng thà lụng thụng như từ trong pho tuồng cổ bước ra. Hôm đầu ông còn ngồi bên bà chúa cùng làng xóm xem cuộc đấu loại của các đô trong vùng. Mỗi đô mạnh một cách không ai chịu ai, họ quẳng nhau huỳnh huỵch, nắm tóc giật khố chẹn cổ bẻ lưng, ra miếng thượng vào miếng hạ, rất nhiều đòn hiểm, rất nhiều võ bẩn, trọng tài nhảy vòng quanh nhắc nhở luôn mồm, sân vật chẳng bao lâu đã lầy lên như vũng trâu đằm, bùn vẩy tung tóe khiến đám đông vừa chạy vừa kêu inh ỏi. Một vài người đứng vòng trong la ó vì không tìm được đường thoát thân, họ đưa mắt nhìn về phía bà chúa và quan trạng như muốn để xin cầu cứu thì thấy cả hai vẫn điềm nhiên như không.

Hôm sau đến lượt ông trạng vào sới vật, chưa gì mà cả làng đã ngấp ngó bồn chồn làm như sắp có bụt hiện. Nhìn ông ung dung bước trên thảm cỏ mới uy nghi làm sao, ai đời vào sới mà nhàn nhã cứ như đi dạo, chả vất vả tẹo nào. Hồi trống giục nổi lên náo nức, ông tươi cười nắm lấy tay người trai làng cùng nhau đi một điệu múa lên đài theo lệ để chào tứ phía. Trống chuyển làn, cuộc đấu bắt đầu.

Tưởng là sẽ có một cuộc kịch chiến bậc nhất nhưng không phải, đây chỉ là một cuộc gặp gỡ hoàn toàn không cân sức, người ta nhanh chóng hiểu ngay rằng những gì mình thấy ngày hôm trước bất quá chỉ nên coi là trò trẻ ranh mà thôi. Giờ đây những gì họ đợi đã không đến, cái đến là một buổi đầy ắp những trận cười vỡ bụng, đầy ắp những câu kêu trời gọi đất bởi quá kinh ngạc trước những gì họ đang được thấy.

Sau mấy miếng dứ thông thường, nhanh như chớp ông trạng đã tóm gọn đối thủ nhấc bổng lên hoặc vác trên vai đi một vòng rồi mang ra quẳng tõm xuống ao đình. Mặt trời còn lâu mới lên tới đỉnh vậy mà trong ao đã thấy lóp ngóp không đếm nổi là bao nhiêu cái đầu đen.

Tiếng trống trận càng dồn dập. Đám đông tha hồ mà gào thét. Như một thói quen đậm đà tính di truyền, vui vẻ cũng hú hét bực bội cũng hú hét, ngày ấy người ở đây chưa biết đến khái niệm vỗ tay, chỉ quen chắp tay, hoặc khoanh tay mà thôi. Cứ hò hét thế suốt năm này qua năm khác, suốt thời này qua thời khác, vua mới phế vua cũ, quan mới truất quan cũ, mày vua tao vua, mày quan tao quan, đám đông đông mãi lên, đám đông ùn ùn mà đi, đi để được gì nhỉ, để được hò hét.

Càng về cuối buổi ông trạng say máu càng muốn phô diễn thêm những miếng cao siêu, mặt ông vẫn tươi tỉnh sức lực vẫn sung mãn, chỉ riêng có đôi mắt là sáng rực vằn lên những tia máu.

Hai cụ cao niên nói nhỏ vào tai nhau, quan ngài lúc ra đòn nom dữ, quả là có tướng cọp vồ. Tôi lại nghĩ khác, nhìn cách ra vào của ngài là đủ thấy, ra là hổ bay vào là rồng cuộn, như vậy cụ bảo là thế gì, oai nghiêm đệ nhất đấy, nó chính là thế rồng cuộn hổ ngồi, thế vững như bàn thạch của người và đất kinh kỳ. Tôi chắp tay xin chịu cụ.

Nguyên một buổi sớm ngài đã dọn sạch một sân đô, toàn là những ông đô lừng danh, họ đi vật để lấy mâm lấy đỉnh chứ đâu có phải vừa. Tiếng lành đồn xa tiếng dữ đồn xa, ai nghe cũng lắc đầu thán phục, người đâu có người ghê gớm đến thế.

Ngày hội chót người làng vẫn đông đủ, nhưng khách thập phương thì tản mát các ngả. Một phần vì hội kéo dài quá, đã mấy làng dám đứng ra mở hội ba ngày. Một phần nữa bởi ai cũng cho rằng làm gì còn người dám đấu, ông trạng hết đối thủ, biết đấu với ai.

Ngẫm mới thấy cái sự hơn người tưởng hay mà hóa ra cũng lắm sự lôi thôi. Nó dễ dẫn người ta đến chỗ bẽ bàng. Cho nên càng thi thố càng nhiều buồn tủi, cái buồn nhất là cảnh hiu hắt lúc về già. Có câu anh hùng độc lập anh hùng khốn là thế.

Ngay từ sớm ra nghe chừng hội hè đã xào xạc, ngang trưa càng vắng, bà chúa thở dài ghé tai quan trạng, tôi xin phép ra ngoài thay cái áo dài rồi ta cùng vào sân với nhau. Ông trạng nghe thì ngẩn ra rồi hỏi lại, bà bảo sao, bà định rủ tôi ra vật thật ư?

Bà chúa nhìn ông mỉm một nụ cười khó hiểu. Người làng thì thào, chưa bao giờ họ thấy bà cười duyên dáng làm vậy. Lát sau bà quay lại, nom thật gọn gàng, khỏe và xinh tươi như đấy là một ai khác vừa từ đâu đến. Một mảnh yếm sồi trắng che ngực, một chiếc váy lửng để lộ hai cẳng chân dài chắc, ngang lưng phơ phất dải lụa hồng đào và một mái tóc cuốn thành búi bồng bềnh sau gáy.

Bầu vú đàn bà nhìn chung là một vẻ đẹp đến thần thánh cũng phải kính nể. Nếu cần dùng những từ to tát chẳng hạn như hai từ vĩ đại và cao quý thì hơn hết thảy mọi thứ được gọi là cao quý vĩ đại ở đời, bầu vú đàn bà vẫn cứ là số một.

Theo cách nhìn của các nhà thống kê thì vú đàn bà lắm kiểu khác nhau lắm, họ phân loại vú theo hình của nó, vú nấm sò, vú bánh giầy, vú măng, vú sừng bò... nói đến vú mướp phải nhớ ngay vú bà Triệu Ấu, mỗi lần cưỡi voi ra trận là một lần bà lại phải vắt vú buộc sau lưng cho đỡ vướng. Còn nếu ai muốn hỏi đến một bầu vú to thì cũng xin thưa sẽ không có một bầu vú nào to hơn bầu vú bà chúa làng chúng tôi. Đó là một đôi vú bình vôi, hai củ bình vôi thây lẩy sau mảnh yếm sồi hờ hững.

Trong lúc bà chúa khoan thai dắt tay ông trạng vật bước ra sân thì ngài lại lúng ta lúng túng như gà mắc tóc khiến mọi người nhìn vào lấy làm ái ngại thay. Ông nói vào tai bà chúa, tôi van bà, bà tha cho tôi có được không? Thay vì phải nói không được, bà nắm thật chặt cánh tay ông lôi đi xềnh xệch.

Trước trăm họ bà oai vệ hất hàm ra hiệu lệnh nổi trống. Chính nhờ có tiếng trống thúc mà ông trạng định thần lại, ông chợt hiểu ra ý tứ của bà và lập tức đứng ưỡn ngực mặt ngẩng cao hiên ngang khiến bà một lần nữa phải liếc nhìn sang ông thật trìu mến. Họ cùng xòe rộng tay bước vào một vũ điệu tuyệt vời say mê làm đám đông nhảy lên như phải bỏng. Người ta hò hét gọi nhau í a í ới chấn động khắp làng trên xóm dưới. Thiên hạ ùn ùn quay lại. Bóng người đen đen đỏ đỏ hiện ra khắp cánh đồng sau vụ gặt hái.

Nhịp trống dào dạt như gió chạy trên lúa. Phút chốc họ hóa thành đôi chim lạc gù nhau trong mùa động đực.

Con mái đi trước con đực bám sau. Con mái xòe cánh chổng mông chổng tĩ lên trời gọi bạn tình nhưng khi bạn tình vừa đến thì nó bất ngờ liệng nghiêng một vòng khéo léo để né tránh và bỏ chạy. Đôi chim làm náo loạn đám hội. Con mái chỉ chịu nằm phủ phục trên cỏ khi nghe tiếng trống chuyển làn sang một nhịp mà trong nghề gọi là nhịp sóng biển xuân, ấy là lúc con đực ấp mình phủ kín lưng con cái. Rất mạnh mẽ con đực ôm chặt bờ vai con cái bắt ngẩng dậy.

Gương mặt ngời sáng của một người đàn bà có nước da bánh mật. Cái cổ kiêu sa và vầng ngực trần rộng rãi dướn lên phập phồng như đất đai đang thở.

Đấy là vũ điệu xa xăm nhất của tộc lạc Việt có lúc tưởng đã bị mai một.

Tan hội xem ý biết trạng vật còn lưu luyến, vừa ngồi sàng gạo dưới nhà ngang bà chúa vừa hỏi ướm:

- Ngày rộng tháng dài đi đâu mà vội, tôi muốn giữ ông ở lại ít hôm thăm thú chỗ này chỗ nọ.

- Hiềm một nỗi tôi trót có cái hẹn với mấy lò bên xứ Đông.

- Đây qua đó chỉ ngồi một đêm đò dọc, đi lúc nào nên lúc ấy - bà ngoảnh sang ông với một nụ cười tinh quái - mà ông định cứ đi tóm cổ thiên hạ ném xuống ao xuống chuôm đến già ư?

- Là tôi đang dạy họ đấy chứ.

- Ông định dắt con người ta đến đâu, ở đời phải biết dạy nhau sống nhũn nhặn mới bền, chả ai khỏe mãi được, tôi cũng đang muốn xem ông khỏe đến mức nào.

Ngẩng lên cắn thử một hạt gạo bà nhìn ông có ý chờ đợi, hai tay buông thõng trên đùi. Ông trạng ngồi thụp xuống trước bà, tay trong tay, thôi thì tôi ở lại.

Bà chúa vui ra mặt, sai đầy tớ chạy ra đình mời cánh phu kiệu vào nhà để thưa chuyện. Sau tuần trà bà bảo họ, các bác cứ về trước, tôi giữ quan trạng ở lại ít ngày, xin biếu mỗi bác một thoi bạc đi đường.

Từ đêm đó họ ăn ở với nhau như vợ chồng. Người đàn bà vào tuổi năm mươi, người đàn ông ba mươi bảy. Một đô vật khỏe nhất nước và một cô gái già quá lứa lỡ thì. Đây cũng là một cuộc chiến nảy lửa, nhiều dồn nén và bùng nổ. Mươi hôm đầu hai bên tỏ ra cân tài cân sức, rú rít rên rỉ khiếp lắm, nhưng về sau quan trạng cứ yếu dần, bà càng phấn khích thèm khát thì ông lại càng bối rối lo lắng, thế và lực nghiêng hẳn về phía bà.

Vào khoảng cuối tháng ba khi hoa gạo nở tưng bừng ngoài đường làng, mây trời xanh ngắt, trạng nhìn ra bỗng thấy chói mắt vì nắng mới khó chịu. Sớm dậy quan ngài thấy đau ê ẩm quanh thắt lưng, nhói buốt như kim châm dọc cột sống, tiếng đang vang trong nay trầm đục như có đờm trong cổ họng. Bụng nghĩ, không khéo bà ta hút hết tủy mình rồi. Người hay quỷ thế không biết, bỏ mẹ thật! Loanh quanh nhìn sang bên lại đã thấy bà lặng lẽ đứng đó từ lúc nào. Chột dạ ngài liền hỏi, tưởng bà ra đồng, đi đứng thế nào mà nhanh thế. Tôi chạy ù ra đồng nhổ mấy cây rau, cũng vừa về. Mấy hôm nay trở giời, tôi cũng thấy mỏi nhừ khắp người, đầu óc thì bồn chồn váng vất. Bà cứ như đi guốc trong bụng người ta, quả là tôi sắp ốm. Thì ngần ấy năm tập tành khổ luyện như ông, có tuổi ốm một chút đã vần gì. Lát nữa tôi cho người chạy sang làng bên mua ít cao hổ cốt nhà cụ lang Quần mới nấu, cao của cụ là cao tin được. Quan trạng vội xua tay, thôi chả cần, đằng nào hôm nay tôi cũng phải ngồi đò qua xứ Đông, chắc là anh em bên ấy nhắc nhiều quá làm tôi sốt ruột. Cả đêm qua tôi đã có lời xin phép bà rồi mà.

- Ông đã quyết thì tôi chả giữ nổi, mấy tháng qua đầu gối tay ấp, tôi được ông yêu quý, thật không muốn rời xa.

- Chắc bà cũng hiểu cho lòng tôi, thời gian gần gụi nhau tuy ngắn ngủi nhưng cái tình là rất dài, tôi hẹn với bà sớm muộn gì tôi cũng trở lại.

- Ông hứa rồi đấy nhé.

Cơm sáng xong bà tiễn chân ông xuống bến, người giúp việc trong nhà ôm gói đồ theo sau. Đợi thuyền khuất vào mảnh rừng ngoài soi, bà mới quay về. Vừa về tới cổng đứa đầy tớ hớt hải chạy ra thưa, bà ơi chỗ bạc bà bảo con nhét vào túi đồ của ông con đã làm đúng, vậy mà ông lấy ra đặt dưới chân bàn từ lúc nào con không biết. Con thật ngốc quá bà ạ. Bà nghe thì bùi ngùi, lát sau buồn bã bảo, thế là ông ấy chả quay lại nữa đâu.

Hạ qua đông lại buồn nhớ quá bà chúa đâm đổ bệnh, biếng ăn hằng đêm mất ngủ, vóc dáng võ vàng, hai bờ vai mới hôm nào còn sáng như vai mấy đứa con gái nay rũ xuống mất sắc, duy chỉ còn đôi vú mang trước vùng ngực là vẫn mạnh mẽ vắt đi vắt lại. Và giọng nói vẫn trầm vang đon đả, của một người hiền.

Thằng ở được lệnh lên làng mời cụ lang Quần xuống xem mạch bốc thuốc và nhân đó bà cháu còn muốn bàn với cụ chuyện gì ấy. Ông cụ gạt đi, tao biết bệnh bà mày rồi, uống thì cứ uống chứ không thuốc nào chữa nổi bệnh ấy đâu. Nó là bệnh phong tình từ tâm mà ra xưa các cụ thường gửi vào chùa nếu con cái phải chứng này, nhưng bà mày sắp lên lão rồi, chùa người ta cũng chả dám chứa. Lạ thật ông ạ, sao bà cháu dạo này lắm lúc đứng lừ lừ trước cửa buồng, mặt dài ra, hai tròng mắt lồi, một mảng tóc suốt từ trước trán chạy ra sau gáy hóa trắng phớ bông gạo. Thế là đã lộ tướng rồi đấy, bà mày tuổi ngựa mà, trông thoáng có nhang nhác như con ngựa hàng mã không? Cháu cũng giật mình thỉnh thoảng thấy giống. Cái lọn tóc ấy chính là bờm con ngựa thần, bà mày là vị khách từ sao thiên mã xuống trần, nay mai lại bay về trời. Cũng đã là sắp sửa qua một kiếp, bà ấy bị đầy xuống đây để âu yếm miền đất này, làm lụng quần quật, suốt đời chịu thương chịu khó, đã được sung sướng lúc nào, nay đến tuổi nghỉ ngơi an nhàn thì đi, gọi đi là phải đi, có vậy thôi. Vậy ông sẽ xuống nhà cho bà con được thưa chuyện chứ ạ, bà con tin và quý trọng ông lắm, bà thường dặn chúng con là ở vùng ta chỉ có ông là ở bậc hiểu biết hơn người. Mày cũng là đứa được bà ấy cho một chút nghĩ ngợi khôn ngoan nên ăn nói khá. Này, không có mấy con vật mẫn tiệp bằng con ngựa đâu đấy. Thôi ta đi nhỉ.

Một già một trẻ trên đồng nắng, lúc qua mấy cái gò thấy có bóng râm mát của lùm cây tròi cổ thụ ông già đòi nghỉ chân. Rồi ông cụ thiếp vào giấc lúc nào không biết. Gió từng cơn nhẹ nhàng làm tóc ông lòa xòa phơ phất, đầu ông gối lên khúc rễ cây lồi cao. Còn gì bằng một giấc ngủ trưa giữa đồng, xung quanh thanh vắng, cây cỏ đám tươi, đám héo, chỗ xanh chỗ vàng, một ngày chớm đông nhưng thiếu gió bấc nên không lạnh.

Thằng nhỏ khẽ bóp bàn chân khô khốc già nua của ông, nó gọi ông ơi, hay là cháu cõng ông một đoạn. Ông già rung rinh cười mỉm sau chòm râu bạc, thây kệ tao, tao vẫn đang ngủ. Ông ngủ sao còn nói chuyện được? Thì vừa ngủ vừa nói, vừa nghĩ, tao còn biết cả việc bà mày sắp mang ra bàn. Thế thì ông cũng là người thần như bà cháu rồi. Ông cười đầy bí hiểm, nhưng tao là hầu thần, cầm tinh khỉ, ở rừng ra chứ không từ sao nào đến như bà mày. Những chuyện ông kể là thật cả đấy ông nhỉ? Biết tin thì là thật mà không biết tin thì là giả, thế mới gọi là thực thực hư hư.

Ai như bóng bà cháu đang hiện ra đằng kia. Bà mày nóng gan nóng ruột nên ra đón đấy. Ông cháu mình cứ đợi ở đây, bàn chuyện gì cũng là bàn ở đây. Chuyện của người mà cũng là chuyện trời đất. Chuyện thuộc về trời đất hãy bàn giữa trời đất, đừng mang vào những chỗ tối tăm ăn xó mó niêu. Mai sau khi chúng tôi đã đi, nơi này vẫn còn mãi, nó là của các anh rồi của con cháu chắt chút, phải sống làm sao cho đàng hoàng ra giống người, cố gắng giữ lấy minh bạch, làm gì cũng phải nghĩ đến sự bồi đắp cho trường tồn, nói những điều xa xôi mà khi làm lại nghĩ ng