Nhà phê bình văn học Hoài Thanh (1909-1982) có 4 con trai, thì cả bốn là những nhà nghiên cứu thành danh. Ba người con đầu của ông đều ở lĩnh vực văn học- nghệ thuật: Từ Sơn về lý luận phê bình; Khương Huân về phê bình mỹ thuật; Phan Hồng Giang, lý luận văn học và dịch thuật. Riêng người con út, Đại tá, GS.TSKH.Nguyễn Đức Cương, sinh năm 1945, đi vào lĩnh vực khác hẳn cha, anh, đó là khoa học kỹ thuật không quân…

Canh bay sang tao - Anh 1

VASA 70-VM trên bệ phóng.

Từ cánh Witcomb…

Năm 1961, chàng trai cao lớn, mái tóc đen dày, khuôn mặt phúc hậu Nguyễn Đức Cương đang học lớp 9 trường cấp 3 Trưng Vương (Hà Nội) trúng tuyển bộ đội không quân. Song năm ấy anh vẫn thiếu “một chút” sức khỏe để có thể trở thành phi công, rồi anh được cử đi học trung cấp kỹ thuật không quân tại Kraxnôđa, thuộc Liên Xô cũ. Năm 1965 anh về nước.

Đầu năm 1966, trong một trận không chiến, MiG- 21 của ta bị trúng tên lửa địch, phi công nhảy dù nhưng hi sinh do dù không mở. Trung đoàn trưởng Trần Hanh giao trợ lý kỹ thuật Nguyễn Đức Cương tìm nguyên nhân. Anh đã viết bản tường trình bằng tiếng Nga gửi sang cho các nhà thiết kế Xôviết. Một thời gian sau, hệ thống “phóng ghế” đã có cải tiến đáng kể, giảm thiểu tai nạn khi ghế bật ra dù không mở.

Một trận khác, chiếc MiG- 21 trở về đang hạ cánh, bất ngờ bị nổ lốp, 2 quả tên lửa ở gần càng văng ra xa, may mà máy bay chạy một đoạn rồi dừng, không bị lật. Quan sát dấu vết tai nạn và nghe lời kể của những người chứng kiến sự việc, Nguyễn Đức Cương đã có một suy đoán chính xác, bị nhầm lẫn khi nạp khí vào ống giảm chấn càng máy bay và bộ phận nạp khí đã nhận lỗi, được kịp thời chấn chỉnh. Nhưng, điều cần thiết nhất với người còn trẻ, có năng lực là phải học lên. Năm 1968, trung úy Nguyễn Đức Cương được cử đi học tại Học viện Kỹ thuật không quân Giucopxky (Liên Xô) và 5 năm sau anh tốt nghiệp hạng xuất sắc, đoạt Huy chương vàng của Học viện. Anh về nước, công tác ở Cục Kỹ thuật quân chủng một thời gian, được trở lại trường cũ làm phó tiến sĩ (nay là tiến sĩ).

Mọi chuyện đang thuận lợi, bỗng xảy ra một “sự cố”, suýt uổng phí một tài năng khoa học mới phát lộ. Một lần anh vào bệnh viện ở Matxcơva để chữa răng, ai dè bác sĩ vừa gây tê xong anh đã ngất xỉu trong 12 giờ liền. Tỉnh dậy anh hầu như mất hết trí nhớ. Thật khủng khiếp, một bộ óc từng được các thầy và đồng nghiệp thán phục vì giải những bài toán thủy khí động học rất phức tạp, từng giành huy chương vàng bỗng chốc trở nên mù mờ, lú lẫn. Anh buộc phải về nước. Khi bước chân xuống ga Hà Nội, thấy anh quên hết những người thân ra đón, người vợ trẻ bật khóc nức nở. Anh nhập viện 108 điều trị, rồi đi an dưỡng, trí nhớ phục hồi chậm chạp. Nghị lực, ý chí của người lính, cộng với sự động viên của người thân đã giúp anh vượt qua được thời khắc hiểm nghèo, đầu óc dần minh mẫn trở lại.

Năm 1978, anh được về trường cũ làm tiếp luận án: Nghiên cứu các biện pháp khí động học để cải thiện tính năng của máy bay chiến đấu ở tốc độ dưới âm. Ở đây anh đã gặp phát kiến từ thực nghiệm trước đấy 2 năm của nhà khí động học Mỹ Witcomb về hiệu ứng giảm lực cản của cánh máy bay. Anh đã chứng minh bằng mô hình số trên máy tính quy luật dòng chảy bao khi có tấm cánh nhỏ ở đầu mút cánh máy bay, gọi là cánh Witcomb.

Nhờ thành công này, năm 1981 Ủy ban quốc gia của Liên Xô về sáng chế đã cấp bằng số 972771 cho sáng chế “Cánh máy bay có giảm lực cản”, tác giả Nguyễn Đức Cương. Bất ngờ nữa, các chương trình phần mềm máy tính của anh và thầy hướng dẫn tính toán được các phòng thiết kế máy bay hàng đầu, mang tên các tổng công trình sư Xôviết lừng danh như: Tupolev, Antonov, Mikoian… đều cử người đến tiếp thu và đưa vào sử dụng trong các thiết kế của họ. Về nước, làm việc ở Viện Kỹ thuật không quân, anh đã cùng các đồng nghiệp Nguyễn Văn Thọ, Trần Thế Việt… hoàn thành tốt đề tài cải tiến tên lửa cũ làm mục tiêu bay cho phi công bắn tập bằng tên lửa hồng ngoại, đã chế được hàng trăm “bia bay” phục vụ cho huấn luyện chiến đấu.

Thế rồi anh trở lại trường cũ lần nữa làm nghiên cứu sinh bậc 2. Gặp lại người thầy uyên thâm, nhà thủy khí động học lừng danh M.I.Nhisht. Khi anh ngỏ ý muốn làm tiếp tiến sĩ (nay là TSKH) trong vòng 4 năm tới, thầy mỉm cười bảo là, có lẽ người Nga không kém thông minh so với người Việt Nam, tuy nhiên học vị tiến sĩ khoa học kỹ thuật ở Nga phần lớn đạt được sau tuổi 50, mà anh năm nay mới có 40. Anh hứa với thầy sẽ dồn hết tâm sức cho nghiên cứu, còn kết quả thế nào thì chưa dám nói trước. Luận án tiến sĩ khoa học của anh về các cánh có hình dạng tự thích nghi khi bay ở tốc độ dưới âm, là một hướng rất có triển vọng ứng dụng thực tế và cũng là một vấn đề khoa học hồi đó chưa có lời giải thỏa đáng.

Thế rồi sau 4 năm miệt mài tính toán lý thuyết và thực nghiệm, anh đã làm được điều khác thường trên đất nước Xôviết, đoạt học vị tiến sĩ khoa học kỹ thuật ở tuổi 44 (năm 1989). Song ngày đó còn ít người biết tới công trình của Nguyễn Đức Cương vì đây thuộc loại bí mật quốc gia của nước bạn.

Về nước, những năm 1993-2000, anh chủ trì về kỹ thuật đề tài chế tạo buồng tập lái huấn luyện phi công máy bay MiG-21bis, trực tiếp phát triển thuật toán và phần mềm điều khiển, góp phần duy trì và nâng cao trình độ bay, bảo đảm an toàn bay, tiệt kiệm cho Nhà nước số ngoại tệ lớn, do không phải nhập ngoại thiết bị này. Là Viện phó Viện Kỹ thuật không quân, từ năm 2000, anh chuyển sang Viện Tên lửa cũng với cương vị Viện phó, đã thực hiện các đề tài mới về tên lửa và còn tham gia chương trình cấp Nhà nước về ứng dụng công nghệ vũ trụ.

Canh bay sang tao - Anh 2

GS.Nguyễn Đức Cương (bên phải) đang chỉ huy một cuộc thử nghiệm tại hiện trường.

…đến máy bay không người lái giám sát từ xa

Giữa năm 2011, Đại tá, GS.Nguyễn Đức Cương chính thức nhận sổ hưu, cũng là khi ông có tròn 50 năm trong quân ngũ. Mái đầu bạc trắng từ lúc nào! Đại hội Hội Hàng không-Vũ trụ (viết tắt VASA), hơn 200 hội viên, đã nhất trí bầu ông làm chủ tịch Hội. Công việc của hội nghề nghiệp cũng thật thích hợp, vì ông từng nghiên cứu sâu ở cả 3 ngành hàng không-tên lửa-vệ tinh. Ông còn là thành viên trong Ủy ban Vũ trụ Việt Nam.
Một câu hỏi đặt ra cho ông và các hội viên: Phải có đóng góp gì cho đất nước?

Đề tài R&D cấp Nhà nước “Về nghiên cứu chế tạo mẫu tổ hợp máy bay không người lái dân dụng cỡ nhỏ để giám sát từ xa phục vụ các nhu cầu kinh tế- xã hội” do ông cùng các chuyên gia của VASA Nguyễn Đăng Minh, Phạm Cao Hanh… thực hiện Nhóm đề tài đã thiết kế, chế tạo một mẫu UAV kiểu mới mang ký hiệu VASA-70VM. Sau mấy năm làm việc khẩn trương, ngày 18-4-2015 tại sân bay Miếu Môn (Hà Nội), đã có cuộc bay trình diễn thành công. VASA-70VM nặng 30 kg, động cơ xăng hai thì; truyền số liệu ở cự ly 80 km, có trang bị camera quan sát ban ngày và ban đêm, bán kính truyền hình 40 km; trần bay có thể lên tới 2500 m và thời gian bay tối đa 5 giờ.

Điều đặc biệt, nó có thể cất cánh bằng dàn phóng khí nén, hạ cánh bằng dù không cần sân bay, đây là tính năng vượt trội so với các loại UAV khác phải cất, hạ cánh trên sân bay. Một ưu điểm nữa, tính sơ bộ giá máy bay của VASA chỉ bằng 1/3 nhập ngoại. Đề tài đã được hội đồng khoa học cấp Nhà nước nghiệm thu, đạt loại khá.

VASA- 70VM đã là một thành công bước đầu. Ông vẫn nuôi hy vọng một ngày không xa các sản phẩm trí tuệ của VASA, trong đó có VASA-70VM sẽ có đóng góp tích cực cho nền kinh tế đất nước. Thâm tâm, ông vẫn có niềm tin ở mình, ở đồng đội.

Phạm Quang Đẩu