SGTT.VN - Tuần trước, tại Hà Nội, ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội và một số tổ chức quốc tế tại Việt Nam đã tổ chức các cuộc hội thảo bàn về vấn đề nợ công của Việt Nam. Tại sao vấn đề này được đặt ra nhiều vào thời điểm này và vì sao lại có những ý kiến khác nhau?

Phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị đã có cuộc trao đổi với ông Hoàng Hải, phó Cục trưởng cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (bộ Tài chính) xung quanh những vấn đề này. Ông Hoàng Hải: Tính đến 31.12.2009, nợ công so với GDP của Việt Nam là 52,6%, trong đó nợ Chính phủ/GDP là 41,9%, nợ Chính phủ bảo lãnh/GDP là 9,8%. Con số 52,6% nợ công tại thời điểm cuối năm 2009 là chưa có quy định của Thủ tướng về nợ công bởi luật Quản lý nợ công có hiệu lực từ 1.1.2010. Như vậy, dù nó vượt quá 50% GDP nhưng vì khi đó chúng ta chưa có ngưỡng an toàn nên cũng khó có thể nói mức dư nợ đó có an toàn hay không. Nợ công của nước ta vượt 50% GDP (Chỉ tiêu nợ tính đến 31.12.2009). Ảnh: TL SGTT Còn nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP là 38,8%, trong đó nghĩa vụ trả nợ Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước là 15,8%, còn nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trung dài hạn so với xuất khẩu là 4,2%. Với tư cách là cơ quan quản lý nợ, chúng tôi có thể khẳng định rằng, nợ Chính phủ và nợ quốc gia hiện vẫn đang nằm trong ngưỡng an toàn. Phần lớn các khoản vay nước ngoài của Chính phủ có kỳ hạn dài, lãi suất cố định và ưu đãi. Tuy nhiên, do cơ cấu đồng tiền vay nợ của Việt Nam khá đa dạng nên cũng tiềm ẩn những rủi ro khi có biến động trên thị trường tài chính thế giới. Bên cạnh đó, danh mục nợ của Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại những bất cập, chẳng hạn như công tác huy động vốn ODA vẫn còn thụ động, nhiều khoản vay ODA còn gắn với những ràng buộc làm tăng chi phí đầu vào, phân bổ vốn vay còn dàn trải, cơ chế cảnh báo sớm còn hạn chế.... Còn chuyện các tổ chức quốc tế có con số khác nhau về nợ công của Việt Nam là do cách thức đánh giá, phân loại khác nhau. Chẳng hạn như cách đánh giá thâm hụt ngân sách của chúng ta khác với một số tổ chức quốc tế. Cụ thể, khi chúng ta đánh giá thì chúng ta đưa toàn bộ các khoản gốc và lãi vào các kỳ ngân sách. Nhưng tổ chức quốc tế thì họ chỉ đưa phần trả nợ thuần, không tính trả nợ gốc. Thứ hai nữa là có những yếu tố khi tính nợ chúng ta không tính vào bội chi ngân sách như trái phiếu Chính phủ phát hành cho các dự án giáo dục thủy lợi..., nhưng quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) lại tính vào. Đặc biệt, với những công trình lớn kéo dài thì chúng ta tính cân đối vào những năm ngân sách tiếp theo, nhưng các tổ chức quốc tế thì họ tính ngay vào năm phát hành trái phiếu để vay nợ. Theo luật Quản lý nợ công thì nợ công là nợ có Chính phủ bảo lãnh và nợ của các chính quyền địa phương. Về nguyên tắc những khoản vay Chính phủ bảo lãnh thì Chính phủ phải đứng ra thanh toán nếu doanh nghiệp đó thất bại. Còn các khoản “nợ ngầm”, tức là các khoản nợ tự vay tự trả thì chúng ta không đưa vào diện nợ công. Nếu Chính phủ không bảo lãnh thì Chính phủ không phải trả. Những khoản doanh nghiệp tự vay tự trả thì doanh nghiệp đó phải chịu. Về nguyên tắc thì các khoản vay dù là của doanh nghiệp nào nếu không bảo lãnh thì Chính phủ không có trách nhiệm trả. Hơn nữa, trong quá trình vay thì phải nói đến 2 quy trình khác nhau. Một là quy trình huy động vốn và quy trình đầu tư các dự án cụ thể. Nếu đi huy động vốn thì bao giờ chúng tôi cũng phải tính đến ngân sách tăng lên bao nhiêu, vay nước ngoài bao nhiêu, trong nước bao nhiêu để bù đắp thâm hụt ngân sách và cho vay lại. Còn nếu các dự án đầu tư thì phải thẩm định các dự án đó và cơ quan cho vay lại là ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại để đảm bảo các dự án có hiệu quả. Rủi ro có thể xảy ra nhưng đó là trong từng trường hợp cụ thể chứ không phải là không tính đến khả năng trả nợ. Chúng tôi cũng đã lường trước được vấn đề này. Khi các dự án đi vay vốn không thuộc diện vay ODA nữa thì chắc chắn phải đảm bảo khả năng thu hồi vốn, bởi những khoản vay thương mại đó sẽ không được đưa vào diện cân đối ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách. Hiện nay bộ Tài chính đang cùng với các bộ ngành xây dựng chiến lược nợ đến năm 2020, trong đó có tính đến biến đổi lãi suất đi vay sẽ tăng dần lên và các khoản vay thương mại sẽ tăng lên. Hiện đường sắt cao tốc vẫn đang là vấn đề chưa được quyết định chính thức. Còn những dự án đang thực hiện, chúng tôi đều đã tính đến khả năng trả nợ. Việc vay nợ phải đảm bảo không vượt ngưỡng ngân sách chịu đựng được và phải đảm bảo cân đối khả năng trả nợ cho tất cả các dự án. Hiện chúng tôi đã tính tới tất cả các yếu tố có thể tác động đến những biến động của các khoản vay trong và ngoài nước. Tuy nhiên, tôi cũng xin lưu ý, cơ chế cảnh báo sớm các rủi ro trong vay nợ của chúng ta hiện nay còn hạn chế. Các vấn đề về rủi trong vay nợ, thanh toán nợ, biến động các khoản vay có lãi suất thả nổi. Chúng ta đang phải vay những khoản vay với đa dạng về đồng tiền, lãi suất khác nhau. Trong khi đó, việc phân tích dự báo về biến động của các đồng tiền, biến động của lãi suất trên thị trường thế giới đều chủ yếu dựa vào những dữ liệu trên thị trường, còn chúng ta vẫn chưa xây dựng được một hệ thống dữ liệu và những dự báo riêng. Đây là hạn chế mà chúng tôi sẽ phải khắc phục và phát triển trong thời gian tới. >> Vinashin và gánh nặng ngân sách >> Ma trận nợ công >> Minh bạch nợ công >> Việt Nam cần một “binh pháp” vay nợ