Sau khi bị chấn thương vùng mặt, nhiều người thường cảm thấy đau rát ở mắt, hoặc nhìn không rõ. Đó là triệu chứng tổn thương thần kinh thị giác.

Can than voi ton thuong than kinh thi giac - Anh 1

Ảnh có tính minh họa

Triệu chứng tổn thương có thể là tụ máu hốc mắt, tràn khí hốc mắt, hoặc tổn thương phản xạ đồng tử hướng tâm.

Nguyên nhân gây tổn thương thần kinh thị giác thường gặp là tại đoạn trong ống thị giác bị gãy, vỡ làm đứt, xé rách thần kinh thị (gãy ống thị giác), mảnh xương sàng sau chèn ép hoặc cắm vào thần kinh thị giác, xuất huyết dưới bao thần kinh thị giác (xuất huyết dưới màng cứng, xuất huyết dưới màng nhện hoặc cả hai), tổn thương mạch máu nuôi dưỡng thần kinh thị giác.

Khi bị tổn thương thần kinh thị giác sau chấn thương, bệnh nhân cảm giác sẽ đau khi vận động nhãn cầu: hay xảy ra ở chấn thương thị thần kinh có tụ máu hốc mắt. Bệnh có thể nhận biết được giảm thị lực ở các mức độ khác nhau. Khuyết hoặc mất một phần thị trường.

Soi đáy mắt tùy thuộc vào hình thái của chấn thương thị thần kinh mà có hình ảnh lâm sàng. Đáy mắt mất hình ảnh đĩa thị và có vòng xuất huyết khi chấn thương đứt thị thần kinh ở đĩa thị. Phù gai khi có dấu hiệu chèn ép. Teo gai xuất hiện sau 4-6 tuần.

Tiên lượng chấn thương thị thần kinh thường nặng, khả năng hồi phục thị lực khó khăn. Tiên lượng của chấn thương thị thần kinh phụ thuộc vào cơ chế của chấn thương, mức độ của tổn thương, thời gian được chẩn đoán và điều trị. Tiến triển tốt khi thị lực hồi phục, có thể hồi phục thị lực nhưng vẫn ảnh hưởng thị trường. Đối với bệnh nhân bị teo gai thị, mất thị lực, nhiều trường hợp không nhận biết được ánh sáng.

Khi có biểu hiện nghi ngờ ngoài khám lâm sàng, các bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra như: chụp ống thị giác: tìm hình ảnh tổn thương ống thị giác; chụp CT scanner sẽ xác định được hình ảnh tổn thương thị thần kinh như đứt thị thần kinh (trừ trường hợp còn dính bao thị thần kinh). Siêu âm cũng có giá trị trong chẩn đoán những tổn thương nhãn cầu phối hợp với tổn thương hốc mắt, ít có giá trị trong chẩn đoán chấn thương thị thần kinh.

Chụp cộng hưởng từ xác định được tổn thương và vị trí tổn thương của thị thần kinh và tổn thương não rõ ràng hơn CT Scanner nhưng không rõ những tổn thương xương như CT Scanner. Ngoài ra, để chẩn đoán tổn thương đường dẫn truyền, giảm tín hiệu trong tổn thương thị thần kinh, các bác sĩ sẽ cho bệnh nhân điện chẩm kích thích.

Tùy từng trường hợp cụ thể mà các bác sĩ sẽ có hướng điều trị thích hợp dựa trên nguyên tắc điều trị theo đặc điểm của tổn thương thị thần kinh là đứt hay chèn ép. Điều trị phối hợp giảm phù, chống viêm, tiêu máu, bảo vệ thị thần kinh.

Đối với mức độ tổn thương nhẹ có thể điều trị nội khoa. Đối với phẫu thuật nhằm giảm áp ống thị giác qua đường sọ não, qua đường xoang sàng và hốc mũi. Phẫu thuật chích tràn khí hốc mắt. Phẫu thuật lấy xương vỡ giải phóng chèn ép.

Phòng chấn thương thần kinh thị giác cũng nằm trong nguyên tắc của phòng các chấn thương chung khác như chấn thương toàn thân, chấn thương sọ não, phòng chống các hành động bạo lực…