Ngôn ngữ là một trong những yếu tố căn bản hình thành nên một dân tộc, một quốc gia. Sự thống nhất của quốc gia được thể hiện bằng nhiều phương diện, song không thể thiếu được sự thống nhất ngôn ngữ.

Can som co quy dinh ve chinh ta tieng Viet - Anh 1

Vậy mà đến nay, chúng ta chưa có bộ luật nào về ngôn ngữ.

Giao tiếp ngôn ngữ tồn tại dưới hai dạng là lời nói và chữ viết. Trong hai dạng ấy thì chữ viết càng ngày càng có vai trò quan trọng; nó khắc phục được hạn chế về không gian và thời gian; tránh sai lệch thông tin khi truyền đạt; bảo đảm công việc hành chính; bảo đảm thế hệ sau hiểu được thế hệ trước. Cũng nhờ chữ viết mà lịch sử, văn hóa dân tộc được kế thừa… Văn bản được xây dựng trên những quy tắc nhất định. Chính tả là những quy ước của xã hội, không cho phép tùy tiện cá nhân, nhằm làm cho mọi người hiểu như nhau về một văn bản; là yếu tố góp phần làm nên sự thống nhất của dân tộc, quốc gia. Với tầm quan trọng đó, việc thống nhất chính tả là một yêu cầu cần thiết, cấp bách.

Hơn nữa, trong nhà trường, trong báo chí hiện nay đang có sự lộn xộn, thiếu thống nhất về chính tả. Chẳng hạn, cùng một địa danh nhưng có nơi viết là Đắc Lắc, nơi viết là Đác Lắc, Đak Lak, Daklak… Chưa kể tình trạng dùng từ Hán Việt, từ nước ngoài khá phổ biến, và thiếu nguyên tắc.

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chính tả tiếng Việt của các nhà ngôn ngữ học. Về quy định có tính chất Nhà nước, ngày 30-11-1980, Bộ Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) và Ủy ban Khoa học Xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) đã ban hành “Một số quy định về chính tả tiếng Việt”. Ngày 5-3-1984, Bộ Giáo dục có Quyết định số 240/QĐ, ban hành "Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt" do Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình ký. Quy định này áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục; các thế hệ học sinh học theo sách giáo khoa đã thực hành trong văn bản của nhiều lĩnh vực xã hội, trong văn bản hành chính, trên báo chí và mạng xã hội hiện nay.

Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, quy định nêu trên đã bộc lộ nhiều hạn chế. Chẳng hạn dùng i (i ngắn) thay cho y (y dài, y grếch) không chỉ không đẹp mà không đúng. Thí dụ, nhà Lý, Lý Công Uẩn đã được ghi trong nhiều sử sách không thể viết thành Lí. Tên Lý Tự Trọng, Bùi Kỷ…, là tên riêng ghi trong khai sinh, không thể viết là Lí Tự Trọng; Bùi Kỉ. Hay người Việt Nam hiểu là hơ lửa một vật gì nếu viết là hui (thay cho huy); hiểu là mùi thối nếu viết thúi (thay cho Thúy, tên riêng). Cũng không thể viết một họ lớn ở nước ta thành Nguiễn. Ở đây có hai nguyên tắc cho chính tả là nguyên tắc truyền thống và nguyên tắc thực tiễn. Và người ta thấm trong máu nguyên tắc truyền thống cho nên người Việt Nam đã không mấy ai viết như vậy.

Trong quy định năm 1984 của Bộ Giáo dục cũng không bảo đảm nguyên tắc tên riêng. Đối với tên người, tên đất, viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết, không dùng gạch nối; thí dụ: Trần Quốc Toản, Quang Trung, Hà Nội…, thì được chấp nhận. Nhưng đối với tên tổ chức, cơ quan (Khoản b, Mục 3) chỉ viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu trong tổ hợp từ dùng làm tên, thí dụ Trường đại học bách khoa Hà Nội, Bộ giáo dục thì không ổn, vì tên riêng của nó là Bách khoa; Giáo dục.

Rồi cả các dấu câu, dấu thanh đánh vào chữ cái nào của một âm tiết cũng là một vấn đề cần bàn. Nếu không được quy định cụ thể, việc soạn thảo phần mềm các bộ chữ Việt Nam áp dụng trên máy vi tính sẽ gặp khó khăn. Thực hiện Chính phủ điện tử, càng nhất thiết phải thống nhất về chính tả.

Nhân kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIV đang diễn ra, đề nghị Quốc hội cho ý kiến để sớm có một quy định thống nhất về chính tả tiếng Việt bằng văn bản pháp quy ở cấp Chính phủ.