Xưa kia Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ... đều lấy “khoan sức dân” làm “kế sâu rễ bền gốc”, tạo một chính sách an dân làm tiền đề xây dựng đất nước thái bình. Hơn lúc nào hết, kế sách ấy cần được đặt trên hàng đầu trong mọi chính sách của Nhà nước, không chỉ trong xây dựng nông thôn mới.

Can nho bai hoc khoan suc dan trong viec xay dung nong thon moi - Anh 1

Xây dựng nông thôn mới là một trong những chủ trương lớn đúng đắn của nhà nước nhằm thay đổi diện mạo nông thôn, phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người nông dân.

Theo báo cáo của Quốc hội, đến ngày 31.12.2015, cả nước có 1.526 xã chiếm 17,1% tổng số xã đạt tiêu chí nông thôn mới, đến tháng 9.2016, đã có 2.045 xã chiếm 23% đạt tiêu chí nông thôn mới, có 24 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt tiêu chí nông thôn mới.

Qua hơn 5 năm triển khai thực hiện, bức tranh nông thôn dần dần khởi sắc, nhiều làng quê đổi thay từng ngày. Các tiêu chí Chương trình xây dựng nông thôn mới được cải thiện rõ rệt, có mức tăng tích cực so với năm 2011.

Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn giảm từ 17,4% năm 2011 xuống 8,2% năm 2015 (bình quân giảm 1,84%/năm). Riêng những xã đã đạt tiêu chí nông thôn mới, mức thu nhập bình quân đầu người tăng từ 16 triệu đồng năm 2011 lên đạt 28,4 triệu đồng năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 11,6% xuống còn 3,6%.

Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề bất cập, nan giải cần được tháo gỡ trong xây dựng nông thôn mới. Sáng 30.9.2016, tại hội nghị toàn quốc triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và phát động phong trào thi đua cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh : “Một số nơi chạy theo thành tích, huy động sức dân quá mức. Quy định xã hội hóa các nguồn lực để phát triển là đúng, nhưng không được phép huy động quá mức trong nhân dân, đặc biệt là dân nghèo”.

Theo quy định, để được công nhận “chuẩn nông thôn mới”, các xã phải đạt “19 tiêu chí”, thực hiện 11 “nội dung”, trong đó thôn, xã phải xây những công trình hạ tầng như đường giao thông nông thôn, kênh mương nội đồng, trụ sở xã, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, khu học tập cộng đồng, khu thể thao, cổng văn hóa (cấp xã, thôn, làng) ... Nhưng do “vung tay quá trán” trong xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn mới đã để lại một khoản nợ đáng báo động, địa phương nào xây dựng nông thôn mới đều mang nợ nần.

Theo báo cáo của Văn phòng Điều phối trung ương, đến nay có 53/63 tỉnh, thành có nợ đọng với số tiền khoảng 15.277 tỉ đồng. Có tổng số 3.637 xã có nợ đọng, chiếm 40,7% số xã xây dựng nông thôn mới cả nước với mức nợ bình quân khoảng 4,2 tỉ đồng/xã. Tổng số nợ đọng của 15 địa phương có số nợ cao nhất chiếm tới 80,7% tổng số nợ đọng của cả nước. Riêng tổng số nợ đọng tại các xã đã được công nhận đạt chuẩn là 7.150 tỉ đồng, chiếm 47% số nợ đọng cả nước; có 1.147 xã đạt chuẩn, chiếm 62,5%, nợ đọng với mức nợ bình quân khoảng 6,24 tỉ đồng/xã.

Về nguyên nhân khách quan, năm 2010, Chính phủ ban hành Quyết định 800/QĐ-TTg về “Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020”, trong có có quy định hỗ trợ 100% vốn từ ngân sách trung ương cho một số công trình hạ tầng nông thôn, trụ sở xã, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa ... Căn cứ vào đó, các địa phương huy động các nguồn vốn tạm thời để các đơn vị thi công triển khai xây dựng các hạng mục công trình trên, chờ ngân sách trung ương cấp trả nợ sau.

Nhưng 2 năm sau, do Trung ương không cân đối được nguồn ngân sách nên Chính phủ lại ra Quyết định số 695/QĐ-TTg về “Sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020”. Quy định này chỉ hỗ trợ 100% cho trụ sở xã, các hạng mục hạ tầng khác không được hỗ trợ 100% nữa, trong khi các địa phương đã ứng vốn triển khai xây dựng nên rơi vào tình trạng nợ đọng, không biết lấy nguồn nào giải quyết. Cần nói thêm, Quyết định 800/QĐ-TTg cho phép các tỉnh trích lại ít nhất 70% nguồn thu từ khai thác quỹ đất cho các xã để phục vụ cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới, nhưng thực tế các xã chỉ được trích lại 30%. Trong khi đó, giá đất nông thôn thấp, các công trình thì đã xây dựng rồi.

Ngoài nguyên nhân từ chính sách, chính lối “tư duy nhiệm kỳ”, “lợi ích nhóm” của quan chức địa phương đã đẩy mục tiêu xây dựng nông thôn mới đi vào ngõ cụt. Lãnh đạo cơ sở đều có tham vọng qua nhiệm kỳ để lại tiếng tăm bằng một số cơ sở hạ tầng. Địa phương nào cũng ham thành tích, muốn “cán đích” nông thôn mới sớm, vượt lên tốp đầu. Nhiều địa phương chưa đủ khả năng, điều kiện nhưng vẫn “xông xáo” đăng ký xây dựng nông thôn mới. Không ít cuộc họp gọi là “lấy ý kiến dân” nhưng chỉ mang hình thức, lãnh đạo địa phương duy ý chí, xem ý kiến người dân là “ý kiến tham khảo”, chưa thực sự lắng nghe nguyện vọng của nhân dân.

Một vài địa phương đặt ra những loại thuế, phí, quỹ vô lý và “tận thu” từ người già đến đứa trẻ mới sinh ra, từ gia đình bình thường đến hộ nghèo, gia đình chính sách. Ai không hoàn thành các khoản “nghĩa vụ” này sẽ bị “khó dễ” khi làm thủ tục hành chính, chứng nhận giấy tờ...

Xây dựng nông thôn mới đâu phải chuyện "sơn tuốt" vẻ bề ngoài của thôn, xã ? Nhiều công trình mọc lên để rồi bị bỏ hoang, “đắp chiếu”, trong khi người dân vẫn nghèo, phải gánh nợ của địa phương. Ở nhiều nơi, nhà văn hóa được xây dựng rất bề thế ngốn cả tỉ đồng, nhưng chỉ để “trang trí”. Trung tâm học tập cộng đồng xây xong rồi khóa cửa im ỉm, nhiều sân vận động được “quy hoạch” từ đất dân để rồi làm nơi chăn thả trâu bò, nhiều chợ xây xong bỏ không để dân chất rơm rạ (dân nghèo chỉ cần chợ chồm hổm). Chính quyền bắt dân xây cổng nhà cho đẹp nhưng không ít ngôi nhà lụp xụp, tạm bợ, sống chật vật, con cái nheo nhóc không được học hành đến nơi đến chốn, lại khổ thêm vì các quỹ đóng góp cho thôn, xã. Bức tranh nông thôn mới một số nơi còn "nham nhở", chắp vá.

Các cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường trạm chủ yếu chỉ phô trương ở khu vực trung tâm xã và gần đó, đi sâu vào trong sẽ gặp đường “ổ voi”, “ổ gà” lầy lội, nhà dân tạm bợ, các cơ sở hạ tầng đơn sơ. Tính bền vững trong xây dựng nông thôn mới chưa cao, chưa cải thiện được thu nhập, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị chưa được thu hẹp. Khi văn hóa làng xã bị phá vỡ, văn minh đô thị không theo kịp hoặc không được định hình sẽ sinh ra nhiều hệ lụy. Tệ nạn xã hội như trộm cướp, cờ bạc, mại dâm, ma túy... đã thâm nhập từng ngõ ngách của nông thôn. Quán cà phê, quán nhậu mọc lên như nấm, giờ làm việc nhiều người vẫn ngồi quán. Vấn đề vệ sinh môi trường, an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội, nếp sống văn hóa mới chưa thực sự được chú trọng...

Nhiều địa phương cố cán đích nông thôn mới bằng mọi giá, chạy theo thành tích nên chỉ tiêu “đạt chuẩn” về thu nhập, cơ cấu lao động, giáo dục, y tế, môi trường ... thiếu thực chất. Đặc biệt, chỉ tiêu giảm hộ nghèo chạy theo số lượng, gượng ép dân “thoát nghèo”, trong khi họ vẫn “nghèo bền vững”.

Không ai có thể phủ nhận mục tiêu, ý nghĩa tốt đẹp của phong trào xây dựng nông thôn mới nhưng tiếc rằng một số địa phương do chạy theo thành tích gắn lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ, chủ quan nóng vội, khai thác sức dân quá mức đã làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân, giảm đi sức lan tỏa của phong trào này. Xưa kia Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ ... đều lấy “khoan sức dân” làm “kế sâu rễ bền gốc”, tạo một chính sách an dân làm tiền đề xây dựng đất nước thái bình. Hơn lúc nào hết, kế sách ấy cần được đặt trên hàng đầu trong mọi chính sách của Nhà nước, không chỉ trong xây dựng nông thôn mới.

Lê Xuân Chiến