Phương pháp thực dưỡng phát triển dựa trên nền tảng của Học Thuyết Âm Dương. Người khỏe mạnh có cơ thể quân bình âm dương; người bệnh tật có cơ thể mất quân bình âm dương, hoặc thiên về âm hoặc thiên về dương.

Can nhac am duong trong nghe thuat am thuc - Anh 1

Ảnh minh họa

Trong thực dưỡng, cân nhắc yếu tố âm dương là một trong những nội dung quan trọng nhất!

1. Định nghĩa: Âm Dương là hai mặt đối lập nhưng thống nhất, không ngừng vận động biến hóa để phát sinh, phát triển và tiêu vong, và tồn tại trong tất cả sự vật và hiện tượng, gọi là Học Thuyết Âm Dương. Cách đây hơn 3000 năm, người xưa đã nhận biết học thuyết này.

Theo Học Thuyết Âm Dương, không có sự vật, hiện tượng nào mà không quan hệ với và không mâu thuẫn nhau. Sự phát triển, biến hóa của mọi sự vật trên thế giới đều do tác động lẫn nhau của Âm và Dương.

Học Thuyết Âm Dương cho rằng sự vật và hiện tượng đối lập nhau có rất nhiều nhưng thuộc tính của hai mặt chỉ biểu hiện ra hai xu hướng có tính đặc thù là: Dương: Ánh sáng, hoạt động, hưng phấn, nóng và Âm: Bóng tối, trầm tĩnh, ức chế, lạnh.

2. Các qui luật cơ bản trong học thuyết âm dương

Âm dương giao cảm: đây là điều kiện căn bản sản sinh ra sự sống.

Ví dụ: sự kết hợp tinh của hai giới đực và cái thì vạn vật (con người, động vật, thực vật) mới có khả năng sản sinh ra các cá thể mới và từ đó thế giới tự nhiên mới phát triển, loài người mới phồn thịnh.

Âm dương đối lập chế ước nhau

Đối lập là sự tương phản giữa hai mặt Âm Dương nhưng thống nhất tồn tại trong mọi sự vật và hiện tượng. Ví dụ như ngày và đêm, nước và lửa, trên và dưới, quá trình đồng hóa và quá trình dị hóa, hưng phấn và ức chế, thiện và ác...

Do có âm dương tương phản nên dẫn đến âm dương chế ước lẫn nhau và kết quả là giúp cho sự vật, hiện tượng đạt được trạng thái cân bằng động. Ví dụ: sự tuần hoàn của nắng và mưa. Nắng bốc hơi nước, tụ thành mây, tạo mưa. Mưa xuống làm hạ nhiệt độ, nước ít bốc hơi, ít mây nên nắng xuất hiện.

Âm dương hỗ căn hỗ dụng

Hỗ căn: là sự nương tựa lẫn nhau của hai mặt âm dương. Bất kỳ phần âm hoặc phần dương đều không thể thoát ly phần kia để tồn tại độc lập. Mỗi vật tồn tại đều nhờ phần đối lập kia làm tiền đề hoặc điều kiện cho sự tồn tại của mình.

Hỗ dụng: là chỉ hai mặt Âm Dương không ngừng tương sinh, thúc đẩy, giúp đỡ lẫn nhau.

Âm dương hỗ căn hỗ dụng là chỉ âm dương đều có nguồn gốc từ nhau. Vô dương tất âm không thể sinh, vô âm tất dương không thể hóa. Hai mặt Âm Dương phải nương tựa vào nhau mới tồn tại được. Cả hai mặt đều nằm trong quá trình phát triển của sự vật, không thể đơn độc phát sinh, phát triển được.

Ví dụ: Có quá trình đồng hóa mới có quá trình dị hóa. Con người không thể tồn tại nếu chỉ có đàn ông. Hưng phấn và ức chế đều là quá trình tích cực của hoạt động vỏ não.

Âm dương tiêu trưởng

Tiêu là thu nhỏ lại, trưởng là gia tăng thêm. Âm Dương tiêu trưởng nói lên sự vận động không ngừng, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt Âm Dương, gồm năm mặt.

- Mặt này trưởng mặt kia tiêu (thái quá): nghĩa là Dương trưởng Âm tiêu hoặc Âm trưởng Dương tiêu. Âm Dương luôn đối lập, chế ước và giữ được trạng thái cân bằng động nhưng do một nguyên nhân nào đó làm cho một bên âm hoặc dương tăng trưởng và ức chế bên còn lại, làm cho bên còn lại yếu đi. Âm thịnh thì Dương suy hoặc Dương thịnh thì Âm suy. Ví dụ: lửa (Dương) đun lâu làm cạn nước (Âm). Nước nhiều dập tắt lửa.

-Mặt này tiêu mặt kia trưởng (bất cập): Âm tiêu Dương trưởng hoặc Dương tiêu Âm trưởng, do Âm hoặc Dương bị bất túc (thiếu) không thể chế ước bên còn lại vì thế cho bên còn lại mạnh hơn. Dương suy Âm thắng hoặc Âm suy Dương thắng. Ví dụ: Trên thị trường, thực phẩm sạch (Dương) có ít thì thực phẩm bẩn (Âm) sẽ tồn tại nhiều và ngược lại.

- Mặt này trưởng thì mặt kia trưởng: Nghĩa là Âm trưởng thì Dương trưởng, Dương trưởng thì Âm trưởng. Hai mặt này do hỗ căn hỗ dụng tích cực tạo nên. Ví dụ: trong cơ thể, phép bổ khí để sinh huyết và phép bổ huyết để dưỡng khí. Đây gọi là bổ Dương để sinh Âm, bổ Âm để sinh Dương. Cơ thể (âm) khỏe mạnh làm cho tinh thần (dương) vui vẻ, tinh thần vui vẻ làm cho cơ thể khỏe mạnh.

-Mặt này tiêu mặt kia cũng tiêu: Do hỗ căn hỗ dụng bất cập mà thành, nghĩa là Âm bất túc thì Dương cũng bất túc. Ví dụ: cơ thể bị bệnh nan y làm cho tinh thần u buồn, tinh thần u buồn làm cho cơ thể sinh bệnh nan y.

Âm Dương chuyển hóa lẫn nhau: là chỉ Âm Dương ở trong một điều kiện nhất định có thể chuyển hóa theo hướng tương phản. “Âm cực sinh Dương, Dương cực sinh Âm”. “Hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn”.

Can nhac am duong trong nghe thuat am thuc - Anh 2

Sự chuyển hóa của Âm Dương là quá trình chỉ xảy ra ở giai đoạn phát triển, biến hóa cuối cùng của sự vật, hiện tượng, còn gọi là “vật cùng tất phản”. Sự chuyển biến của Âm Dương thể hiện qua hai hình thức tiệm biến (đổi từ từ) và đột biến (đổi tức khắc). Ví dụ: Khí hậu 4 mùa trong một năm luôn luân chuyển: Từ lạnh sang nóng là quá trình "Âm tiêu Dương trưởng", từ nóng sang lạnh là quá trình "Dương tiêu Âm trưởng", do đó có khí hậu mát, lạnh, ấm, nóng. Đây là trường hợp tiệm biến.

Trong bệnh sốt cấp tính: do sốt cao liên tục đến một lúc nào đó xuất hiện thân nhiệt hạ thấp, chân tay lạnh. Đây là trường hợp đột biến.

Âm Dương tiêu trưởng mà nguyên lý căn bản tạo ra quá trình này là Âm Dương đối lập chế ước và Âm Dương hỗ căn hỗ dụng.

Âm dương bình hành

Hai mặt Âm Dương tuy đối lập và vận động không ngừng, nhưng luôn lập đi lập lại thế cân bằng giữa hai mặt. Đây là biểu hiện của Âm Dương Tiêu Trưởng ổn định trong một phạm vi nhất định nhưng không vượt qua giới hạn, được gọi là trạng thái cân bằng.

Sự mất cân bằng giữa hai mặt âm dương trong cơ thể sẽ phát sinh bệnh tật hoặc trong môi trường sẽ gây đảo lộn, chẳng hạn thời tiết quá lạnh hoặc quá nóng.

Ví dụ: Số lượng nam và nữ trong xã hội luông luôn tương tương nhau. Cơ thể con người luôn duy trì sự cân bằng giữa quá trình đồng hóa và dị hóa. Nếu quá trình đồng hóa mạnh hơn dị hóa thì dễ dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì và ngược lại dễ dẫn đến các chứng bệnh khác như tiêu khát (tiểu đường) trong Đông y.

Năm qui luật cơ bản của âm dương nói lên sự tương phản, thống nhất, nương tựa lẫn nhau và vận động không ngừng của vật chất, giúp vật chất đạt được trạng thái cân bằng động (bình hành). Sự vận động của Âm Dương là vĩnh cửu mà cân bằng chỉ mang tính tương đối.

3. Một số khái niệm của Âm Dương:

Âm Dương đầu tiên hàm nghĩa đơn giản là sự vật nào hướng về mặt trời là Dương, khuất bóng mặt trời là Âm. Ví dụ: Lưng ghế hướng về mặt trời nên lưng ghế Dương, mặt ghế Âm. Đổi lại, mặt ghế hướng về mặt trời thì mặt ghế Dương, lưng ghế Âm.

Âm Dương biểu thị hai mặt đối lập của những sự vật và hiện tượng khác nhau, và cũng biểu thị hai mặt đối lập trong cùng một sự vật. Ví dụ: trời với đất, nước với lửa (đối lập hai vật khác nhau); khí với huyết, tạng với phủ (đối lập trong cùng một sự vật).

Thuộc tính Âm Dương của sự vật và hiện tượng không phải tuyệt đối mà là tương đối. Do vậy đơn thuần một sư vật hay hiện tượng không thể định âm dương mà phải thông qua sự so sánh mới phân định được Âm Dương. Chẳng hạn, phụ nữ thì không phải âm cũng không phải dương. Phụ nữ so với nam giới thì Âm hơn. Nước 600C thì Âm hơn nước 700C nhưng dương hơn nước 500C.

Tuy mỗi sự vật và hiện tượng đều có 2 mặt Âm Dương, nhưng trong Dương còn có Âm và trong Âm còn có Dương. Ví dụ, ban ngày là Dương, ban đêm là Âm. Buổi chiều là Âm trong Dương ban ngày, buổi khuya là Dương trong Âm ban đêm.

4. Biểu tượng của Âm Dương: được thể hiện bằng một vòng tròn khép kín với đường cong hình chữ S ngược chia hình tròn ra làm 2 phần bằng nhau.

- Nửa trắng là Dương, nửa đen là Âm.

Trong phần âm có nhân dương (gọi là Dương trong Âm), và trong phần dương có nhân âm (gọi là Âm trong Dương).