Kết quả thu hút vốn trong nước của Nghệ An là khá ấn tượng trong bối cảnh nhiều nhân tố bất lợi trong và ngoài nước. Tuy vậy, tuy có vị trí địa – kinh tế tương tự, nguồn FDI đổ vào Thanh Hóa lại nhiều hơn. Cần nâng cao hơn nhiều tính hấp dẫn của Nghệ An so với các tỉnh khác Đông Bắc Bộ, đặc biệt là Thanh Hóa.

Báo Nghệ An lược ghi ý kiến ông Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam tại "Phát triển Nghệ An đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết 26 - NQ/TW" tổ chức tại thành phố Vinh ngày 29/10.

'Can nang cao tinh hap dan cua Nghe An trong khu vuc' - Anh 1

Ông Lê Xuân Sang - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam. Ảnh Văn Nhân

Nghệ An có nhiều bất lợi thế về địa kinh tế song không phải là không thể để vươn lên, bứt phá mạnh mẽ hơn. Định hướng chung nhất là cần nỗ lực hơn nữa để cải thiện môi trường kinh doanh - cạnh tranh, tập trung phát triển những ngành mà bất lợi thế về khoảng cảnh xa trung tâm kinh tế lớn ít ảnh hưởng tới giá thành sản xuất, dựa nhiều hơn vào các lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của mình thông qua việc tận dụng triệt để các lợi ích mà cách mạng công nghệ thông tin – truyền thông (nhất là Interrnet, điện thoại di động, số hóa) ...

Với tinh thần như vậy, các định hướng phát triển Nghệ An trong bối cảnh hội nhập mới chủ yếu bao gồm các yếu tố sau:

Một là, tiếp tục kiên định trong cải cách các thể chế kinh tế, môi trường kinh doanh ở tỉnh theo hướng tạo thuận lợi hơn nữa (phục vụ tốt hơn) các doanh nghiệp trong nước, thu hút các DN FDI có chất lượng, tạo dựng Nghệ An là hình mẫu tốt của Chính quyền Kiến tạo phát triển.

Hai là, trong bối cảnh nhu cầu phát triển nhiều song khả năng đáp ứng có hạn, cần có lộ trình (thời gian, cách thức và dung lượng) thực thi các giải pháp mà NQ 26 định hướng và các quy hoạch của Tỉnh, ưu tiên thực hiện các giải pháp có tác động lớn, khả thi và nâng cao sức cạnh tranh của tỉnh trong dài hạn.

Ba là, để thu hút được nhiều vốn đầu tư và các nguồn lực khác vào Nghệ An, chiến lược xuyên suốt là cần nâng cao hơn nhiều tính hấp dẫn của Nghệ An so với các tỉnh khác Đông Bắc Bộ, đặc biệt là Thanh Hóa.

Bốn là, tạo dựng môi trường thuận lợi hơn, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp công nghệ phù hợp với thế mạnh hạ tầng CNTT của Nghệ An, chất lượng và tinh thần/bản lĩnh nguồn nhân lực của Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa.

Năm là, nỗ lực lớn hơn, tập trung nhiều nguồn lực hơn và hiệu quả hơn để Nghệ An trở thành Trung tâm công nghệ phần mềm và Trung tâm khoa học, giáo dục và đào tạo vùng Bắc Trung Bộ.

Sáu là, đối với chính sách thu hút đầu tư: ngoài các nỗ lực Tỉnh đang làm, tiếp tục xúc tiến thu hút vào công nghệ thông tin, chế biến nông, lâm, thủy sản các DNFDI, nhất là MNC trên cơ sở tìm hiểu kỹ mặt mạnh, mặt yếu (nhất là các vi phạm môi trường), chuỗi giá trị, chuỗi sản xuất trong khu vực của các doanh nghiệp này.

Bảy là, đối với lựa chọn ngành phát triển: cần tập trung, nỗ lực hơn trong thúc đẩy công nghệ thông tin (nhất là phần mềm) và công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản.

'Can nang cao tinh hap dan cua Nghe An trong khu vuc' - Anh 2

Xếp dỡ hàng container tại cảng Cửa Lò

Để tránh nguy cơ tụt hạng và nắm bắt các cơ hội mới, cần tăng cường nguồn lực cho tỉnh phát triển công nghiệp phần mềm thông qua thực hiện các giải pháp sau :Huy động từ các nguồn vốn ngân sách, ODA thành lập thí điểm một vườn ươm công nghệ phần mềm; tạo đầu tàu -sức lan tỏa và là nền tảng phát triển công nghệ thông tin, phần mềm và chuỗi liên kết kinh doanh trên địa bàn Nghệ An và cả Bắc Trung Bộ.

Đối với công nghệ thông tin và phần mềm, nguy cơ tụt hạng trong xếp hạng phát triển CNTT là khá lớn, nhất là so với Bắc Ninh, đồng nghĩa với tuột mất cơ hội thu hút đầu tư từ bên ngoài cho ngành này. Việc Đà Nẵng bắt đầu quá tải mặt bằng cho phát triển CNTT là cơ hội tốt cho Nghệ An thu hút đầu tư bên ngoài. Cơ hội khác là cơ cấu dân số vàng hiện tại của tỉnh.

Đối với công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, cần dành nhiều hơn nguồn lực hơn trước để đẩy mạnh phát triển. Đối với Nghệ An đây là ngành có tác động lan tỏa tốt nhất, thúc đẩy các ngành liên quan trên địa bàn/trong nước trong khi đó ít kích thích nhập khẩu từ Trung Quốc hơn so với các ngành khác.

Tỉnh nên sớm nghiên cứu, thành lập vườn ươm nông lâm thủy sản tại một trường đại học trên địa bàn để thúc đẩy chế biến các sản phẩm này, qua đó kết nối hữu hiệu 4 nhà trong chế tạo, đưa vào thực tiễn và thương mại hóa các sản phẩm là cách thức tương đối mới. Vườn ươm chế biến thực phẩm cũng là mô hình đáng tham khảo, nhất là từ Hà Nội.

Các định hướng và giải pháp nói trên cần được ưu tiên trong bối cảnh mới của Nghệ An. Do chúng có tác động qua lại lẫn nhau, một số là nền tảng cho các định hướng giải pháp còn lại, do vậy, mong rằng, được quan tâm, nỗ lực đúng mức để Nghệ An từng bước vươn lên mạnh hơn nữa và là hình mẫu phát triển của các tỉnh có vị trí bất lợi về địa kinh tế khác song sáng tạo, vượt khó và trở nên thịnh vượng.

Trân Châu - Xuân Hoàng (ghi)