Đối với biện pháp bảo đảm cũng không có căn cứ để xác định giá trị “tương ứng”. Đối với biện pháp cưỡng chế, Chấp hành viên thường dựa vào Chứng thư thẩm định giá để xác định giá trị “tương ứng”.

Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ. Qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Thi hành án dân sự (gọi tắt là: Nghị định 62/2015), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2015. Tại khoản 1 Điều 13 Nghị định này có đoạn qui định: “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết, trừ trường hợp qui định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định này. …”.

Can cu vao dau de xac dinh gia tri 'tuong ung'? - Anh 1

Khoản 4 Điều 24 Nghị định này qui định: “Trường hợp người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án, các chi phí liên quan thì Chấp hành viên lập biên bản giải thích cho họ về việc phải chịu mọi chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản đó và tiến hành kê biên tài sản để thi hành án. Người phải thi hành án bị hạn chế quyền thực hiện giao dịch đối với các tài sản khác cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án”.

Như vậy, trừ trường hợp qui định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định 62/2015, còn lại khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế Chấp hành viên phải xác định giá trị tài sản “tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết”.

Vậy, xác định giá trị “tương ứng” trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế hay sau khi đã áp dụng? Nếu xác định giá trị “tương ứng” trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế, thì Chấp hành viên phải căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để xác định? Nếu xác định giá trị “tương ứng” sau khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế, thì:

Đối với biện pháp bảo đảm cũng không có căn cứ để xác định giá trị “tương ứng”. Đối với biện pháp cưỡng chế, Chấp hành viên thường dựa vào Chứng thư thẩm định giá để xác định giá trị “tương ứng”. Căn cứ như vậy cũng không có cơ sở, bởi pháp luật chưa qui định. Tài sản cưỡng chế kê biên, xử lý để thi hành án thường bán được giá trị nhỏ hơn nhiều so với chứng thư thẩm định giá,thậm chí hạ giá nhiều lần vẫn không bán được.

Vậy, căn cứ vào đâu để Chấp hành viên xác định “tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết”? Nên, khi áp dụng vào thực tiễn thi hành án còn vướng mắc, lúng túng. Khi bị khiếu nại, có các quan điểm hiểu và áp dụng khác nhau trong việc giải quyết.

Thiết nghĩ, cơ quan có thẩm quyền sớm có văn bản hướng dẫn thi hành điều luật nêu trên, để cơ quan THADS dễ áp dụng vào thực tiễn.

Phạm Công Ý/KD&PL