Để “giữ chân” các DN FDI, nhất là trong bối cảnh, nguồn vốn này đang có xu hướng tập trung vào một số quốc gia khác đang nổi lên trong khu vực như Malaysia, Myanmar... các chuyên gia kinh tế đều cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư một cách quyết liệt và mạnh mẽ hơn nữa.

Dù đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và trên thực tế, cùng với doanh nghiệp (DN) trong nước, nhiều năm qua, khối DN FDI đã luôn chứng tỏ mình là những “cánh chim đầu đàn” mang về cho Việt Nam nguồn ngoại tệ lớn từ xuất khẩu. Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, ngoài những khó khăn khách quan do khủng hoảng kinh tế mang lại, môi trường đầu tư của Việt Nam cũng bộc lộ những hạn chế khiến cho niềm tin của khối DN FDI ít nhiều bị sụt giảm.

Kết quả khảo sát từ cuộc điều tra năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2012 (PCI) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy, cả DN trong nước và DN FDI đều bi quan hơn, khi niềm tin về triển vọng kinh doanh giảm từ mức 76% năm 2006 xuống còn 33% năm 2012. Chỉ có 33% DN FDI có kế hoạch mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trong hai năm tới.

Lý giải về sự sụt giảm niềm tin của khối DN FDI nói chung, DN đến từ khu vực châu Âu nói riêng, ông Preben Hjortlund, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp châu Âu (EuroCharm) cho rằng: Mặc dù vẫn hy vọng vào sự phát triển dài hạn của Việt Nam, nhưng các nhà đầu tư châu Âu đã giảm sút niềm tin vào Việt Nam kể từ năm 2011 do các điểm nghẽn cố hữu của nền kinh tế như thủ tục hành chính, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng… chậm được cải thiện, trong khi các rủi ro bất ổn vĩ mô lại có xu hướng gia tăng. Và để giảm thiểu rủi ro, một số DN FDI đã tìm đến một số giải pháp “an toàn” như chuyển việc sản xuất các bộ phận chính của sản phẩm sang nước thứ 3.

Cùng quan ngại trên, chuyên gia kinh tế, TS. Phạm Đỗ Chí chia sẻ thêm: Việc các DN FDI tỏ ra e dè hơn khi quyết định đầu tư vào Việt Nam chủ yếu xuất phát từ hai nguyên nhân chính. Thứ nhất là rủi ro chính sách và các rào cản đầu tư khác. Thứ hai là sự chậm trễ trong việc cải thiện môi trường đầu tư. Thực tế là trong nhiều năm qua, chúng ta mất rất nhiều công sức để thu hút đầu tư nhưng lại không có được một quy hoạch, chính sách hay thông điệp rõ ràng về những thứ mà nền kinh tế cần từ phía Nhà nước. Bằng chứng là chúng ta đang mải miết tìm kiếm những dự án đầu tư hơn là định hướng các ngành công nghiệp. Bởi thế, dù có rất nhiều dự án đầu tư từ nguồn vốn FDI nhưng chúng ta lại chưa xây dựng, quy hoạch được ngành công nghiệp rõ ràng nào cả. Thậm chí, với một số ngành sản xuất công nghiệp đã có chủ trương quy hoạch như sắt, thép, ôtô... cũng không được triển khai triệt để trên thực tế với một hệ thống chính sách rõ ràng, nhất quán.

Đơn cử như ngành công nghiệp ôtô, trong vài năm gần đây, đã nhiều lần thay đổi chính sách về thuế và phí liên quan đến ngành ôtô, gây nhiều khó khăn cho các hãng sản xuất cả trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, theo cảm nhận của các DN FDI, môi trường đầu tư tại Việt Nam dù đang được cải thiện nhưng với tốc độ quá chậm. Trong đó, thủ tục hành chính, cơ hội tiếp cận đất đai, hệ thống văn bản pháp luật, chất lượng lao động, cơ sở hạ tầng... vẫn tiếp tục là những vấn đề mà DN FDI quan ngại.

Để “giữ chân” các DN FDI, nhất là trong bối cảnh, nguồn vốn này đang có xu hướng tập trung vào một số quốc gia khác đang nổi lên trong khu vực như Malaysia, Myanmar... các chuyên gia kinh tế đều cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư một cách quyết liệt và mạnh mẽ hơn nữa. Trong đó, ngoài các yếu tố như ổn định kinh tế, chính trị thì các yếu tố được xem là “động lực” để thu hút đầu tư như chất lượng nguồn nhân lực, chi phí lao động, chính sách hỗ trợ từ chính phủ, cơ sở hạ tầng... cũng cần phải đặt lên hàng chính yếu