Được nghiên cứu, chuẩn bị từ cách đây sáu năm, qua nhiều lần chỉnh sửa, dự án Luật Quy hoạch đã được Chính phủ đưa ra trình Quốc hội tại kỳ họp này. Sau 30 năm đổi mới, công tác quy hoạch của chúng ta bộc lộ quá nhiều bất cập, vậy nên, một bộ luật chuyên ngành lần đầu tiên được xây dựng sẽ góp phần cải cách thủ tục hành chính và thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển.

Cai cach toan dien cong tac quy hoach - Anh 1

Lắm quy định vẫn loạn quy hoạch

Đó là ý kiến của nhiều cử tri khi đề cập đến công tác quy hoạch thời gian qua. Biết bao “dự án treo”, dự án “chưa sinh đã tử”, những vụ khiếu kiện kéo dài về đất đai, tài nguyên, môi trường… đều có nguồn cơn từ công tác quy hoạch không hiệu quả, vi phạm pháp luật, gây thiệt hại lớn cả về tiền của và nguồn lực quốc gia. Trong Tờ trình số 389/TTr-CP ngày 11-10 về dự án Luật Quy hoạch gửi Quốc hội khóa XIV xem xét cũng thừa nhận: Sau 30 năm đổi mới, nền kinh tế của đất nước đã có nhiều thay đổi, quy mô nền kinh tế lớn gấp nhiều lần trước đây, trong khi công tác quy hoạch chưa theo kịp trước sự đổi mới và đã bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, gây khó khăn trong điều hành phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, các ngành, làm lãng phí nguồn lực của đất nước, ảnh hưởng tới môi trường sinh thái và cản trở các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của các tổ chức, doanh nghiệp, người dân.

Một trong những hạn chế, yếu kém trước hết là do quy hoạch được lập quá nhiều nhưng chất lượng thấp, quy hoạch không gắn với nhu cầu sử dụng cũng như nguồn lực thực hiện và thiếu tính khả thi gây lãng phí. Số liệu thống kê cho thấy, thời kỳ 2001-2010, số quy hoạch được lập là 3.114 thì đến thời kỳ 2011-2020 số lượng quy hoạch phải lập lên tới 19.285 bản quy hoạch các loại (tăng gấp sáu lần). Số lượng đã vậy, chất lượng còn đáng lo ngại hơn: Hầu hết các dự án ưu tiên đầu tư trong quy hoạch quá lớn, không phù hợp với khả năng huy động nguồn lực. Đơn cử như nhu cầu vốn đầu tư ưu tiên cho các dự án đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giai đoạn 2011-2020 nằm trong các quy hoạch là 385 đến 390 tỷ USD, nhưng thực tế khả năng huy động được chỉ đạt 210 đến 215 tỷ USD (chiếm 50%).

Chưa hết, đa số các quy hoạch được đánh giá là thiếu gắn kết, không thống nhất và còn nhiều chồng chéo, mâu thuẫn.

Nguyên nhân của những hạn chế được Chính phủ chỉ ra là bởi tư duy và nhận thức của các cấp, các ngành về quy hoạch còn bất cập; trong khi lại ban hành quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về công tác quy hoạch nhưng không đồng bộ, thiếu thống nhất. Tính đến nay, đã có 95 luật, pháp lệnh điều chỉnh về hoạt động quy hoạch, trong đó riêng quy định trực tiếp về quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm đã có 72/95 luật, pháp lệnh.

Băn khoăn quanh “quy hoạch tổng thể quốc gia”

Dự thảo Luật Quy hoạch bao gồm 6 chương với 67 điều đã được Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng giới thiệu tóm tắt trong Tờ trình của Chính phủ. Trong đó nhấn mạnh, phải có Quy hoạch tổng thể quốc gia, bởi đây là công cụ giúp Chính phủ trong việc chỉ đạo, điều hành về điều phối, phân bổ nguồn lực của quốc gia một cách hiệu quả trên cơ sở tôn trọng quy luật kinh tế thị trường. Việc lập quy hoạch tổng thể quốc gia với sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương và sự tham gia ý kiến, phản biện của xã hội nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch và tạo ra lợi ích cao nhất cho đất nước trong phát triển kinh tế - xã hội, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Vì vậy, trong phần tiếp thu, giải trình ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ xin bảo lưu ý kiến để “Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể quốc gia sẽ vừa bảo đảm tính linh hoạt trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, đồng thời phù hợp với thẩm quyền của Chính phủ khi quyết định các vấn đề về kinh tế - xã hội được quy định trong Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015”.

Tuy nhiên, trong phần trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật Quy hoạch, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh cho rằng, do quy hoạch tổng thể quốc gia có tính chất vô cùng quan trọng, đề nghị Cơ quan soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu quy định tại điểm g khoản 1 Điều 15 về quy trình phối hợp lập quy hoạch, Điều 31 về thẩm quyền phê duyệt quy hoạch và Điều 39 về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, theo hướng Chính phủ trình Quốc hội quyết định Quy hoạch tổng thể quốc gia, Quy hoạch sử dụng đất quốc gia, Quy hoạch không gian biển quốc gia, và thẩm quyền điều chỉnh quy hoạch theo nguyên tắc cấp nào phê duyệt quy hoạch thì cấp đó có quyền điều chỉnh quy hoạch.

Trong phiên thảo luận tại tổ, nhiều đại biểu Quốc hội (ĐBQH) còn bày tỏ đồng tình với dự án Luật Quy hoạch đã bãi bỏ nội dung về quy hoạch sản phẩm với lý do: Việc không quy định quy hoạch sản phẩm sẽ giúp bỏ được những loại giấy phép không phù hợp với kinh tế thị trường, là bước đột phá, giải pháp quan trọng thúc đẩy quá trình cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Về vấn đề này, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế, giải thích: Các ngành, lĩnh vực, sản phẩm lập quy hoạch không gắn với không gian nhưng để phục vụ nhu cầu quản lý sẽ chuyển sang thành các chương trình, đề án hay một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm thuộc lĩnh vực kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật có liên quan.

Việc sớm ban hành dự án luật là cần thiết, song làm sao để Luật Quy hoạch thật sự khả thi, đem lại hiệu quả cao, góp phần quan trọng trong việc tái cấu trúc nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững - là những băn khoăn không chỉ của các ĐBQH mà cả các chuyên gia. Theo đó, các ý kiến đề nghị ban soạn thảo dự án luật cần dành thời gian nghiên cứu, tiếp thu các kiến nghị; quan tâm hơn đến các đối tượng chịu tác động của luật; quan tâm đến tính dự báo khả thi… Đồng thời, cũng cần có những quy định cụ thể về xử lý trách nhiệm, xử lý những tiêu cực, sai phạm; bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả trong công tác quy hoạch.