Nam giới Việt Nam có tỉ lệ mắc các bệnh ung thư khó chữa như phổi, gan, trực tràng, vòm họng... cao. Tuy nhiên, do ý thức khám chữa bệnh định kỳ ở nam giới chưa cao, nên có tới 70% ca phát hiện và điều trị khi bệnh đã ở giai đoạn muộn.

Cac benh ung thu thuong gap o nam gioi Viet Nam - Anh 1

Chụp CT để tầm soát ung thư toàn thân. Ảnh: VGP/Hiền Minh.

Tại Hội thảo tiếp cận điều trị ung thư hiệu quả và đáp ứng khả năng chi trả, tổ chức ngày 12/4 tại Hà Nội, PGS. Trần Văn Thuấn, Phó Giám đốc Bệnh viện K Trung ương cho biết, trong bản đồ ung thư thế giới, tỉ lệ mắc ung thư ở nam giới Việt Nam xếp thứ 3 với 135-178 ca mắc trên 100.000 người. Tỉ lệ tử vong cũng nằm trong nhóm đầu với hơn 142 ca tử vong trên 100.000 người.

Nam giới Việt Nam có tỉ lệ mắc các bệnh ung thư khó chữa như phổi, gan, trực tràng, vòm họng... cao. Tuy nhiên, do ý thức khám chữa bệnh định kỳ ở nam giới chưa cao, nên có tới 70% ca phát hiện và điều trị khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, vì vậy không còn cơ hội chữa khỏi bệnh. Chẳng hạn như ung thư gan, gần 88% khám ở giai đoạn muộn (giai đoạn 3 và 4), ung thư phổi là 84%.

Ở nữ giới, các bệnh ung thư hay gặp là ung thư vú, ung thư cổ tử cung… trong đó, ung thư vú là phổ biến nhất, vì cứ 100.000 người lại có khoảng 30 ca mắc bệnh ung thư này.

Tuy nhiên, ung thư cổ tử cung lại có xu hướng giảm do nữ giới đang dần ý thức hơn về việc khám sức khỏe định kỳ và vệ sinh đường sinh dục.

Bà Phạm Cẩm Phương, Phó Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai) cho biết, đa số bệnh nhân ung thư tử vong là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình như Việt Nam.

Căn bệnh này đang trở thành thảm họa sức khỏe thầm lặng vì chi phí cao, điều trị dài ngày.

Tuy nhiên, theo bà Phương, bệnh ung thư nếu được phát hiện sớm thì điều trị sẽ đơn giản hơn, hiệu quả cao và chi phí thấp hơn. Vì thế, người dân cần quan tâm tới sức khỏe của mình, tốt nhất là đi khám sức khỏe định kỳ để phát hiện và điều trị bệnh sớm.

Đồng thời, ngành y tế cần nâng cao các giải pháp y tế dự phòng như phối hợp với các chương trình giảm tác hại thuốc lá, tiêm chủng mở rộng, phòng chống bệnh không truyền nhiễm, vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng cường quản lý bệnh tại cộng đồng và tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức của người dân…

Điều trị nhắm trúng đích

Hiện có rất nhiều phương pháp để điều trị bệnh ung thư như: Phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, nhắm trúng đích, miễn dịch. Trong đó, phương pháp điều trị nhắm trúng đích được áp dụng nhiều trên thế giới cũng đang có xu hướng gia tăng ở nước ta.

Theo ông Phạm Xuân Dũng, Bệnh viện Ung bướu TPHCM, điều trị nhắm trúng đích là phương pháp điều trị với liệu pháp toàn thân, ít độc tính hơn, bảo đảm chức năng và thẩm mỹ cho người bệnh. Cơ chế tác động của phương pháp này được áp dụng trên nhiều loại ung thư khác nhau.

Ví dụ điển hình về hiệu quả của phương pháp này đối với ung thư đại trực tràng: Nếu như năm 1980, với các phương pháp điều trị ung thư thông thường, thời gian kéo dài sự sống của người bệnh được khoảng 10 tháng, thì đến năm 2005, với phương pháp điều trị nhắm trúng đích, thời gian sống của người bệnh kéo dài đến 25 tháng.

Tuy nhiên, thuốc điều trị sử dụng theo phương pháp điều trị nhắm trúng đích rất đắt, chẳng hạn, nếu điều trị bằng thuốc glivec, người bệnh phải trả 500 triệu đồng/năm; thuốc erlotinib là 40 triệu đồng/tháng, thuốc sorafenib 118 triệu đồng/tháng…

Trên thế giới hiện có khoảng 37 loại thuốc nhắm trúng đích nhưng không phải tất cả bệnh nhân trên toàn thế giới đều được tiếp cận điều trị.

Ví dụ như Nhật có tới 19/37 loại thuốc, trong khi tại Việt Nam đang sử dụng 13/37 loại thuốc nhắm trúng đích. Các loại thuốc này được BHYT chi trả 50%.

Ngoài ra, còn có 52 loại thuốc khác điều trị ung thư cũng đang được BHYT cùng chi trả.

Hiện nay ở Việt Nam, 10 bệnh ung thư phổ biến ở nam giới là phổi, dạ dày, gan, đại trực tràng, thực quản, vòm, hạch, máu, tuyến tiền liệt và ung thư bàng quang. 10 bệnh ung thư phổ biến ở nữ giới là ung thư vú, đại trực tràng, phổi, cổ tử cung, dạ dày, tuyến giáp, gan, buồng trứng, hạch và ung thư máu.

Tổng gánh nặng trực tiếp của 6 bệnh ung thư (ung thư vú, cổ tử cung, gan, đại trực tràng, dạ dày, khoang miệng) ước tính chiếm 0,22% tổng GDP của Việt Nam năm 2012.

Hiền Minh

Share on Tumblr