(TBKTSG Online) - Do thiếu trang thiết bị, dụng cụ thẩm định nên nhiều nơi cán bộ quản lý thị trường đã phải kiểm tra chất lượng phân bón giả bằng ... miệng!

Văn Nam

Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng trả lời chất vấn trước Quốc Hội chiều nay - Ảnh: Văn Nam

Thông tin đáng giật mình này được Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng đưa ra tại phiên chất vấn trước Quốc hội chiều nay (17-11) sau khi một số đại biểu Quốc cho rằng việc chống buôn lậu, hàng giả thời gian qua còn tình trạng "con voi chui lọt lỗ kim".

Theo người đứng đầu Bộ Công Thương, buôn lậu là vấn đề nhức nhối, tồn tại nhiều năm nay, và kết quả xử lý vẫn còn nhiều hạn chế. Trong báo cáo kiểm điểm cá nhân gởi đại biểu Quốc hội để lấy phiếu tín nhiệm thì cá nhân Bộ trưởng Công Thương cũng nhận trách nhiệm về vấn đề này.

Theo ông Hoàng, số vụ việc vi phạm gian lận thương mại bị phát hiện và xử lý năm sau cao hơn năm trước; ví dụ như trong 10 tháng đầu năm 2014, số vụ kiểm tra xử phạt của quản lý thị trường ngành công thương tăng 12 – 14% so với năm 2013 nhưng tình hình buôn lậu vẫn khá phức tạp.

Nguyên nhân được ông Hoàng cho là do dung lượng thị trường phát triển mạnh, độ mở của nền kinh tế rất lớn nên việc giao thương hàng hóa với tỉ trọng ngày càng tăng, đi liền với đó là một số phần tử làm ăn không chính đáng trong và ngoài nước lợi dụng sự mở cửa để đưa hàng kém chất lượng vào tiêu thụ trong nước.

Ngoài ra do công tác đấu tranh của lực lượng quản lý thị trường vừa yếu, thiếu về trang thiết bị, nên hiệu quả không cao.

"Đi kiểm tra mà thiếu trang thiết bị kiểm nghiệm, đánh giá chất lượng thậm chí để xác định chất lượng phân bón trên thị trường thì ở các nhiều nơi anh em chi cục quản lý thị trường còn phải thử bằng miệng để nhận biết. Công cụ thiếu, nên hiệu quả chưa cao. Tuy nhiên, không loại trừ trong đội ngũ quản lý thị trường có tiêu cực, bao che cho các hành vi sai phạm", Bộ trưởng Hoàng nói.

Khi nghe người đứng đầu ngành công thương giải thích, đại biểu Nguyễn Thị Khá (Trà Vinh) nói rằng bà rất buồn vì bộ trưởng nói thiếu phương tiện, trang thiết bị đến độ phân bón phải kiểm nghiệm bằng miệng thì thuốc trừ sâu kiểm tra bằng gì? Phương tiện lạc hậu vậy thì có giải pháp gì không? Trách nhiệm Bộ trưởng Bộ Công Thương đến đâu?

Ngành công nghiệp hỗ trợ và những câu hỏi "đâu rồi?"

Đại biểu Nguyễn Thị Khá đặt vấn đề rằng: hiện nay chủ trương kêu gọi đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực lắp ráp ô tô, điện thoại di động, điện tử thì tỉ lệ nội địa hóa của Việt Nam chiếm khoảng bao nhiêu phần trăm, có dư luận cho rằng từ những con ốc vít nhỏ cũng phải nhập từ nước ngoài, phải chăng trong lĩnh vực này đất nước ta chỉ là bãi rác thải để họ thuê một phần lao động phổ thông và hưởng chính sách ưu đãi đầu tư ở Việt Nam?

Trong khi đó, đại biểu Lê Đình Khanh (Thanh Hóa) cho rằng công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, nhưng qua nhiều năm phấn đấu đến nay hầu hết các khâu cơ giới hóa phải phụ thuộc vào máy móc nhập khẩu.

"Cử tri hỏi đâu rồi Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo - niềm tự hào của ngành công nghiệp nặng những năm 1960, đâu rồi Tổng công ty máy Động lực, máy nông nghiệp Việt Nam, đâu rồi hàng chục viện nghiên cứu, hàng chục ngàn kỹ sư, tiến sĩ với hàng chục ngàn luận án, đồ án đề tài khoa học chưa được ứng dụng trong thực tiễn, phải chăng Bộ Công Thương chưa có những chính sách khuyến khích phát triển nên những anh “hai lúa” được trọng vọng ở nước ngoài nhưng lại bị “bó” ở Việt Nam?", đại biểu Khanh chất vấn.

Trả lời các câu hỏi này, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cho biết, năm 2007 Việt Nam có quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đến 2010, tầm nhìn 2020; đến năm 2011 có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Nhưng ông Hoàng thừa nhận là phát triển CNHT Việt Nam trong thời gian qua có khá nhiều vấn đề, được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm, hầu như kỳ họp nào cũng nêu ra để sớm có chính sách phù hợp khuyến khích phát triển. Gần đây nhất Bộ Công Thương đã ban hành quy hoạch phát triển CNHT. Tuy nhiên, cấp độ pháp lý của những chính sách còn thấp, chưa đạt yêu cầu, chưa tạo thuận lợi cho CNHT phát triển.

Giải thích thêm, ông Hoàng khẳng định khi nói đến CNHT thì chủ yếu nói đến phụ tùng, nguyên phụ liệu. Tuy nhiên, để phát triển các lĩnh vực này thì đòi hỏi quy mô sản xuất phải lớn. Nhưng thời gian qua, dung lượng thị trường chưa đủ, ví dụ như ô tô chỉ sản xuất 70.000 xe mỗi năm của hơn 10 nhà sản xuất lắp ráp ô tô nên khó có doanh nghiệp CNHT nào đứng ra cung cấp phụ tùng cho các doanh nghiệp ô tô. Về lý thuyết thì mỗi năm phải cần sản xuất khoảng 100.000 xe ô tô mới có thể thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành linh kiện ô tô.

Riêng về dệt may và da giày, đến nay ngành dệt may có thể tự lo liệu 50% nguyên phụ liệu, ngành da giày tự lo liệu được 60% nguyên liệu. Ngoài ra, với xu thế thương mại hóa toàn cầu thì sự phân công trong chuỗi giá trị toàn cầu ngày càng được quyết định bởi các doanh nghiệp lớn. Do vậy, các doanh nghiệp trong nước đi sau, sức yếu, kinh nghiệm chưa nhiều nên khó chen chân vào chuỗi sản xuất linh kiện phụ tùng toàn cầu.

Ngoài ra CNHT là ngành thâm dụng lao động, đòi hỏi lao động có tay nghề cao, thậm chí gần như là nghệ nhân và hiện nay Việt Nam đang thiếu nguồn nhân lực CNHT.

"Tôi xin thẳng thắn thừa nhận các chính sách chúng ta có nhưng chưa đồng bộ và hiệu quả chưa cao, chính vì vậy Bộ Công Thương đang trình Chính phủ phê duyệt nghị định bao quát nhiều chính sách hoàn chỉnh hơn", ông Hoàng nói thêm.

Đi vào chi tiết, người đứng đầu ngành công thương thông tin thêm đối với ngành sản xuất ô tô trong nước thì đến nay, sản xuất ô tô chở khách đến 80 chỗ hiện tỷ lệ nội địa hóa được 40%, điển hình là Xí nghiệp ô tô Trường Hải. Còn đối với xe ô tô chuyên dụng, nội địa hóa được 70%, riêng ngành sản xuất ô tô con thì tỷ lệ nội địa hóa còn thấp chỉ được 10% và đây là cái chưa thành công của thực hiện quy hoạch phát triển ô tô.

Điện tử gia dụng đạt 30 – 35% tỷ lệ nội địa hóa (điều hòa, máy giặt, tủ lạnh), điện tử nội địa hóa đến nay được 15%, dệt may được 50%, da giày 60%.

Theo Bộ Công Thương, lâu nay việc đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ có thời gian thu hồi vốn dài, có độ rủi ro khiến các nhà đầu tư e ngại khi đầu tư sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Hiện năng lực của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ vẫn còn rất kém một phần cũng vì không có đủ tiềm lực tài chính.

Sự yếu kém trong năng lực cung ứng các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cũng buộc các doanh nghiệp sản xuất chính tìm kiếm nguồn cung cấp từ bên ngoài và đây chính là nguyên nhân gây nhập siêu trong sản xuất công nghiệp nhiều năm qua. Đơn cử như năm 2013, kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là sản phẩm điện tử, linh kiện, kim loại, dệt may và da giày của Việt Nam là 53,1 tỉ đô la Mỹ, sang năm 2014 con số này lên đến 67,6 tỉ đô la Mỹ và có thể lên 70 tỉ đô la Mỹ trong vài năm tới.

Lo ngại nhà máy thủy điện lớn chạy cầm chừng, lãng phí!

Trong phần chất vấn Bộ trưởng Bộ Công Thương chiều nay, đại biểu Đỗ Văn Đương (TPHCM) là người hỏi đầu tiên với vấn đề rằng: có ý kiến phản ánh doanh nghiệp điện nhà nước công suất lớn (ví dụ như Thủy điện Hòa Bình) nhưng hoạt động cầm chừng, trong khi chúng ta mua điện Trung Quốc giá cao, vậy có lãng phí nguồn lực doanh nghiệp điện nhà nước không, ý kiến phản ánh này có đúng không? Nếu đúng thì vì sao doanh nghiệp điện nhà nước hoạt động cầm chừng, có nhóm lợi ích không và trách nhiệm bộ trưởng giải quyết vấn đề này ra sao?

Trả lời, bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cho biết, nước ta chắt chiu vốn xây dựng nhiều thủy điện lớn đa mục tiêu như Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang, Trị An … và một trong những mục tiêu xây thủy điện là tận dụng lợi thế thủy năng để vừa phát điện, vừa cắt lũ, cấp nước cho hạ du sản xuất nông nghiệp mùa kiệt.

Trên thực tế, riêng đối với Thủy điện Hòa Bình, từ khi xây dựng đến nay có sản lượng điện bình quân 9 - 10 tỉ kWh mỗi năm và hầu như năm nào cũng phát điện đến công suất này, không có chuyện cầm chừng. Còn Thủy điện Sơn La 3 năm qua năm nào cũng phát vượt sản lượng thiết kế, mỗi năm phát trên dưới 10 tỉ kWh, các thủy điện lớn khác cũng vậy.

"Do vậy, không có cơ sở khi nói rằng chúng ta phát các thủy điện lớn cầm chừng trong khi phải đi mua điện nhập khẩu. Bộ Công Thương phối hợp với các ngành, chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) mua điện các thủy điện nhỏ ngang với giá thủy điện khác, tạo thuận lợi cho thủy điện nhỏ phát điện với giá ngày càng nâng cao", ông Hoàng khẳng định.

Xem thêm:

Bộ Công Thương thừa nhận có “hỗ trợ” thi tuyển công chức