Ngày 31-10, Bộ NN&PTNT chính thức có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ thông tin về chất lượng nước mắm.

Bo NN&PTNT chinh thuc bao cao Thu tuong ve chat luong nuoc mam - Anh 1

Bộ NN&PTNT sẽ tổ chức rà soát làm rõ khái niệm nước mắm truyền thống, phân biệt với các sản phẩm khác. Ảnh: Internet

Bộ NN&PTNT nêu rõ, sau khi nhận được chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 9030/VPCP-KGVX ngày 22-10 giao Bộ NN&PTNT “chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế để có ngay thông tin chính thức tới người dân về loại và hàm lượng Arsen an toàn trong sản phẩm nước mắm cũng như các thông tin cần thiết khác liên quan, tránh gây hoang mang dư luận”, Bộ đã thành lập Tổ công tác liên ngành, bao gồm đại diện của Bộ Y tế, Bộ Công Thương để rà soát, bổ sung một số thông tin có liên quan về chất lượng, an toàn thực phẩm sản phẩm nước mắm.

Cụ thể, kết quả rà soát, bổ sung thông tin cho thấy, về loại và hàm lượng Asen an toàn trong nước mắm: Theo các tài liệu của nhiều tổ chức quốc tế, cơ quan nghiên cứu, kiểm soát an toàn thực phẩm có uy tín trên thế giới như Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc, Tổ chức Y tế thế giới, Cơ quan An toàn thực phẩm Châu Âu,… Arsen có thể tồn tại dưới dạng vô cơ và hữu cơ.

Arsen hữu cơ là kết quả của quá trình trao đổi chất tự nhiên, do đó có trong thực phẩm (bao gồm cả cá). Vì vậy, sản phẩm nước mắm được lên men từ cá có tồn tại Asen hữu cơ. Asen hữu cơ không gây độc cho người, vì vậy không cần đánh giá mức độ nguy hại và quy định giới hạn tối đa trong thực phẩm (đặc biệt là sản phẩm nước mắm với mức nhập lượng tiêu thụ hàng ngày rất thấp). Trong khi đó, Asen vô cơ (còn gọi là thạch tín) gây độc cho con người, do vậy, có quy định giới hạn tối đa (hàm lượng an toàn) trong thực phẩm.

Hiện nay, theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với giới hạn ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm do Bộ Y tế ban hành QCVN 8-2:2011/BYT, hàm lượng Arsen vô cơ tối đa trong nước chấm (gồm cả nước mắm) được quy định là 1 mg/kg.

Kết quả khảo sát trên tạp chí Food Chemistry (tháng 2-2008) về hàm lượng Arsen có trong nước mắm sản xuất ở Việt Nam và Thái Lan xuất sang Áo cho thấy tổng Arsen chỉ từ 0,69-2,75 mg/l, trong đó chủ yếu là arsenobetaine, một dạng Arsen hữu cơ không độc hại, không phát hiện Arsen vô cơ.

Theo công bố ngày 22-10-2016 của Bộ Y tế, 247/247 mẫu nước mắm của 210 nhãn hiệu sản phẩm nước mắm khác nhau của 82 cơ sở sản xuất (lấy ngẫu nhiên trên thị trường và một số siêu thị) được kiểm nghiệm không phát hiện Arsen vô cơ. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả khảo sát của quốc tế được công bố nêu trên.

Liên quan tới quy định về phụ gia trong sản xuất nước mắm: Bộ NN&PTNT nêu rõ, tiêu chuẩn quốc tế về nước mắm do Việt Nam và Thái Lan đồng đề xuất Ủy ban tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (CODEX) ban hành (Codex Standard 302-2011: Standard for fish sauce) quy định 17 phụ gia được phép sử dụng trong sản xuất nước mắm thuộc 6 nhóm: chất điều chỉnh axit, chất điều vị, chất tạo ngọt, phẩm màu, chất ổn định và chất bảo quản.

Bộ Y tế cũng đã ban hành Thông tư 27/2012/TT-BYT và Thông tư 08/2015/TT-BYT quy định 400 phụ gia được phép sử dụng trong sản xuất thực phẩm, trong đó qui định 17 phụ gia được phép sử dụng trong sản xuất nước mắm hoàn toàn phù hợp với Tiêu chuẩn quốc tế Codex Standard 302-2011: Standard for fish sauce. Như vậy, theo quy định hiện hành, trong sản xuất nước mắm có thể sử dụng một hoặc một số phụ gia nằm trong danh sách 17 phụ gia quy định tại Thông tư 27/2012/TT-BYT và Thông tư 08/2015/TT-BYT.

Theo Thông tư 27/2012/TT-BYT và Thông tư 08/2015/TT-BYT về quản lý phụ gia thực phẩm, việc sử dụng phụ gia thực phẩm trong sản xuất nước mắm là được phép nếu phụ gia đó nằm trong danh mục cho phép, đảm bảo độ tinh khiết, đúng đối tượng sử dụng và không vượt ngưỡng theo quy định.

Về khái niệm nước mắm, Bộ NN&PTNT nêu rõ: Hiện chưa có văn bản nào quy định cụ thể về khái niệm nước mắm truyền thống (hay còn gọi là nước mắm nguyên chất, nước mắm cốt) và nước mắm pha chế từ nước mắm truyền thống (hay còn gọi là nước mắm công nghiệp).

Để đảm bảo minh bạch, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Bộ NN&PTNT sẽ tổ chức rà soát Tiêu chuẩn Việt Nam về nước mắm (TCVN 5107:2003) để làm rõ khái niệm nước mắm truyền thống, phân biệt với các loại sản phẩm khác pha chế từ nước mắm.

Đối với nước chấm: Theo phân loại tại Tiêu chuẩn quốc tế Codex Stan 192-1995, nhóm sản phẩm nước chấm (sauces and like products) bao gồm nhiều loại khác nhau, trong đó nước mắm được xếp vào nhóm nước chấm trong (clear sauce). Do nguồn nguyên liệu sản xuất nước chấm và nước mắm (nước chấm trong) khác nhau, rủi ro về an toàn thực phẩm (như kim loại nặng) khác nhau nên Bộ NN&PTNT sẽ rà soát, xây dựng tiêu chuẩn riêng về nước chấm và quy định về danh mục chỉ tiêu, mức giới hạn an toàn thực phẩm riêng cho nước chấm và nước mắm (nước chấm trong).

Về vấn đề ghi nhãn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/2006/NĐ-CP về nhãn hàng hóa. Bộ Y tế, Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm bao gói sẵn.

Kết quả thanh, kiểm tra cho thấy hiện nay, một số cơ sở sản xuất chỉ thể hiện thông tin về hàm lượng đạm tổng trên nhãn, không công bố hàm lượng đạm axit amin hay đạm amoniac hoặc công bố không trung thực hàm lượng đạm trên nhãn.

Ngoài ra, đối với các cơ sở sản xuất nước mắm sử dụng phụ gia thì việc thể hiện các thông tin về các loại phụ gia đã được sử dụng trong quá trình sản xuất nước mắm cũng chưa minh bạch như: thể hiện không đầy đủ các loại phụ gia sử dụng; chỉ thể hiện mã số ký hiệu phụ gia; thể hiện các nội dung trên nhãn không đúng kích cỡ, vị trí theo qui định nên rất khó nhận biết.

Để phù hợp hơn với thực tiễn sản xuất kinh doanh nước mắm hiện nay, đồng thời, đảm bảo thông tin rõ ràng, minh bạch đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng và thuận lợi cho cơ quan quản lý, Bộ NN&PTNT sẽ tổ chức nghiên cứu, rà soát toàn diện Tiêu chuẩn Việt Nam về nước mắm (TCVN 5107:2003) để làm rõ hơn khái niệm nước mắm truyền thống; quy định cụ thể hơn về phân loại, ghi nhãn và các nội dung khác để đảm bảo phù hợp, hài hòa với Tiêu chuẩn quốc tế CODEX STAN 302-2011 “Standard for fish sauce”.

Nguyễn Thanh