Để nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ, theo quy chế đào tạo của Bộ GD-ĐT, nghiên cứu sinh muốn bảo vệ phải có bài báo khoa học quốc tế.

Đó là khẳng định của ông Bùi Văn Ga - Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, tại buổi tọa đàm về nâng cao chất lượng tiến sĩ, ngày 10/11.

Muốn hội nhập thì phải có công bố quốc tế

Mặt khác, theo ông Ga, đào tạo tiến sĩ là đào tạo các nhà nghiên cứu chứ không phải đào tạo kỹ năng nghề nghiệp. Do vậy, luận án tiến sĩ phải là công trình khoa học, phải có cái mới và phải được đăng tải trên các tạp chí quốc tế để được phản biện.

"Lâu nay chúng ta chưa quan tâm chuyện này. Chỉ có công bố trong nước và vài báo cáo tại các hội nghị do đó mới chỉ đánh giá được trong nước. Muốn vươn ra thế giới, hội nhập thì phải công bố quốc tế", Thứ trưởng Ga cho hay.

Theo Thứ trưởng Bùi Văn Ga, sắp tới, việc quy định số lượng bài báo công bố quốc tế của NCS sẽ có dải từ thấp đến cao chứ không phải yêu cầu cứng với tất cả các lĩnh vực.

"Khoa học tự nhiên (KHTN) thì dễ công bố bài báo quốc tế hơn là khoa học xã hội (KHXH) và các lĩnh vực khác. Do vậy sẽ có những quy định cho phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam.

Với những ngành, lĩnh vực đăng trên tạp chí nước ngoài khó thì phải đăng tạp chí trong nước nhưng khuyến khích đăng trên các tạp chí bằng tiếng nước ngoài", Thứ trưởng Ga cho hay.

Bo GD-DT: Bao ve tien si phai co cong bo quoc te - Anh 1

Bộ GD-ĐT kiểm soát , nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ

Trong khi đó, GS Trần Văn Nhung, Tổng thư ký Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước cho biết, theo kinh nghiệm nước ngoài, trong quá trình làm nghiên cứu sinh và được cấp bằng tiến sĩ thì dứt khoát phải có phát minh, phải tạo ra cái mới dù ở mức độ khác nhau. Ở Đông Âu muốn bảo vệ luận án tiến sĩ về KHCN thì ít nhất phải có 2 bài ISI.

Do đó, theo GS Nhung, NCS muốn bảo vệ luận án tiến sĩ phải có công bố quốc tế. Các ngành Khoa học tự nhiên và công nghệ thì ít nhất phải có 2 bài báo quốc tế ISI. Các ngành KHXH thì không thể cứng nhắc như vậy được nhưng có thể có ít nhất 1 bài.

"Tôi thấy KHXH ở các nước cũng đòi hỏi bài báo khoa học ghê gớm lắm. Tiến tới các ngành KHXH của chúng ta cũng phải đăng 1 bài bằng tiếng Anh trên các diễn đàn, tạp chí uy tín thế giới. Chẳng hạn như nghiên cứu về giáo dục, kinh tế thì phải đăng trên tạp chí quốc tế", GS Nhung nói.

GS Nguyễn Đình Đức cũng khẳng định, ở nước ngoài, các ngành như tâm lý và KHXH-NV cũng phải có đủ 2 công bố quốc tế. Vì thế, NCS trong các ngành KHXH-NV sẽ khó hơn, thời gian làm tiến sĩ có thể dài hơn. Tuy nhiên, theo GS Đức, đây là cách từng bước để nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ.

Người hướng dẫn NCS phải nâng tiêu chuẩn

Ở góc độ khác, theo Thứ trưởng Bùi Văn Ga, ngoài nâng chuẩn đầu vào và đầu ra với NCS thì tiêu chuẩn của người hướng dẫn cũng phải được nâng lên.

"Để nghiên cứu sinh thực hiện tốt vai trò nghiên cứu của mình thì định hướng nghiên cứu của các thầy hết sức quan trọng. Thầy phải đi trước nhìn nhận định hướng nghiên cứu, thầy phải có có công trình, hợp tác quốc tế mới có định hướng hướng dẫn bảo vệ luận án của mình được", Thứ trưởng Ga nói.

Việc Bộ GD-ĐT đưa ra các thay đổi trong quy chế đào tạo tiến sĩ, có thể là do trước đó, theo thống kê của Dự án Trắc lượng khoa học Việt Nam (Scientometrics for Vietnam - S4VN), cập nhật từ cơ sở dữ liệu Web of Science của ISI (Viện thông tin khoa học Mỹ), số lượng công bố quốc tế trong hệ thống ISI của Việt Nam trong năm 2015 cập nhật tới 2/6/2016 là 3.060 bài báo.

Tính chung cả giai đoạn 2011-2015, tổng số công bố quốc tế của Việt Nam trên các tạp chí ISI đạt mức 11.791 bài. Tỉ lệ tăng trưởng công bố ISI của Việt Nam theo từng năm đạt từ 10 đến trên 20%. Có năm như năm 2013 đạt tỉ lệ tăng trưởng là 28%.

Nếu so sánh với các nước trong khu vực ASEAN, với số lượng công bố quốc tế ISI là 11.791 bài trong 5 năm qua, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 4 trong khu vực, sau Singapore, Malaysia và Thái Lan.

Nếu so sánh với một số quốc gia khác ngoài khu vực ASEAN, số lượng các công bố quốc tế ISI của Việt Nam còn khá lẹt đẹt. Chẳng hạn như trong 5 năm (2011-2015), Hàn Quốc có tới 298.986 công bố quốc tế, cao gấp 25 lần so với Việt Nam.

Đặc biệt, tỉ lệ các công bố quốc tế chất lượng cao lại đang có xu hướng giảm đi. Cụ thể, tỉ lệ các công bố quốc tế của Việt Nam thuộc hạng Q1 (các tạp chí hàng đầu) của hệ thống ISI đã giảm từ 41% năm 2010 xuống 38% năm 2015.

Điều này không có nghĩa là số lượng công bố quốc tế thuộc hạng Q1 của Việt Nam giảm xuống mà gia tốc tăng của các công bố thuộc loại "chất lượng cao" đang đi theo chiều giảm xuống. Nói cách khác, mặc dù số lượng các công bố quốc tế ISI của Việt Nam tăng, song tỉ lệ lớn là thuộc loại các công bố "hạng 2".

Thậm chí, từ năm 2011-2015, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN cũng chỉ có 22 bài đăng trên các tạp chí khoa học được Viện Thông tin Khoa học (ISI) công nhận.

Sơn Ca (Tổng hợp)