Theo Bộ Công Thương, vấn đề xử lý tro xỉ của các nhà máy nhiệt điện chưa được giải quyết triệt để còn nước thải từ các nhà máy này chủ yếu là nước làm mát.

Bo Cong Thuong len tieng ve chuyen xa thai cua cac nha may nhiet dien - Anh 1

Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 1 (ảnh minh họa).

Theo Bộ Công Thương, từ đầu năm 2016 đến nay, bộ này đã tập trung kiểm tra tại 29 doanh nghiệp (DN) nhiệt điện có hoạt động xả nước thải ra biển hoặc cửa sông giáp biển.

Về thực trạng công tác bảo vệ môi trường tại các DN nhiệt điện, Bộ Công thương khẳng định tất cả các nhà máy nhiệt điện đang xây dựng và đã đi vào vận hành đều có Báo cáo đánh giá tác động môi trường được Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) thẩm định, phê duyệt.

Tuy nhiên vẫn có dự án thay đổi hạng mục công trình bảo vệ môi trường so với báo cáo đã được phê duyệt như Nhà máy nhiệt điện Duyên hải 1. Vì thế, các dự án này chưa được Bộ TN&MT cấp giấy xác nhận hoàn thành các công trình, hạng mục bảo vệ môi trường.

Bộ Công Thương cho biết, các nhà máy đã lắp đặt hệ thống lọc bụi tĩnh điện (ESP), hệ thống xử lý SO2 (FGD) và hệ thống SCR để xử lý NOx đạt quy chuẩn của Việt Nam về môi trường. Hiện chỉ có 2 nhà máy với công nghệ cũ nên không lắp đặt hệ thống xử lý SO2 là Phả Lại I và Ninh Bình.

“Với đặc thù công nghệ của nhiệt điện đốt than, khi khởi động lò hơi hoặc khi công suất lò thấp, các nhà máy phải đốt kèm dầu FO, HFO hoặc DO. Lúc này, hệ thống lọc bụi tĩnh điện không hoạt động được do nguy cơ cháy nổ và người dân sẽ quan sát thấy hiện tượng khói đen tại miệng ống khói”, văn bản của Bộ Công Thương giải thích.

Bộ này cũng thừa nhận, hiện có 20 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành với lượng tro xỉ, thạch cao thải ra hơn 15,7 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, các nhà máy chưa tìm được giải pháp đầu ra cho tro xỉ theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 1696/QĐ-TTg.

Vướng mắc lớn nhất là nhiều DN sản xuất xi măng, gạch không nung có khả năng sử dụng sử dụng tro, xỉ của nhà máy nhiệt điện làm nguyên liệu sản xuất nhưng lại không đủ điều kiện tiếp nhận tro xỉ theo quy định của Nghị định số 38/2015/NĐ-CP. Hơn nữa, các quy chuẩn kỹ thuật đối với tro xỉ làm vật liệu xây dựng, vật liệu san nền vẫn còn thiếu.

Theo Bộ Công Thương, về vấn đề nước thải của nhà máy nhiệt điện, chủ yếu chỉ có nước làm mát bình ngưng là thải ra môi trường. Còn các loại nước thải xỉ, nước thải từ hoạt động sản xuất của các phân xưởng trong nhà máy được thu gom và tái sử dụng, không xả thải ra môi trường.

Trong số các nhà máy nhiệt điện đốt than hiện nay chỉ có 2 nhà máy là Duyên Hải 1 và Vũng Áng sử dụng nước làm mát để xử lý khí thải SOx trước khi thải ra môi trường. Nước làm mát bình ngưng chỉ được châm clo để diệt khuẩn với nồng độ dưới 1 ppm trước khi đi vào hệ thống. Do đó, về bản chất, thành phần và tính chất của nước làm mát bình ngưng không thay đổi trước và sau khi làm mát, thải ra môi trường.

Trước những tồn tại trong công tác bảo vệ môi trường tại các nhà máy nhiệt điện nêu trên, Bộ Công Thương cho biết đã chỉ đạo nhà thầu, chủ đầu tư phải hoàn thành đầy đủ các hạng mục, công trình bảo vệ môi trường theo cam kết. Trong giai đoạn vận hành thử nghiệm cần thông báo rộng rãi để chính quyền và người dân địa phương cùng giám sát.

Đối với tro xỉ nhà máy nhiệt điện, Bộ Công Thương chỉ đạo các nhà máy phải chịu trách nhiệm đối với nguồn phát sinh chất thải của mình, chủ động tìm kiếm các giải pháp để xử lý và tiêu thụ.

Đối với vấn đề nước thải, Bộ yêu cầu các nhà máy phải lắp đặt hệ thống giám sát các thông số nước thải trực tuyến, kết nối với Sở TN&MT để tạo thuận lợi cho các cơ quan giám sát các thông số môi trường.

Đối với các dự án đang trong giai đoạn thiết kế và trình phê duyệt, Bộ Công Thương chỉ đạo các chủ đầu tư yêu cầu tư vấn thiết kế phải tính toán, đưa ra các giải pháp công nghệ tiến tiến, gắn liền với hệ thống kiểm soát và xử lý chất thải.

Bộ Công Thương cũng cam kết thực hiện Chỉ thị số 25/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường, trong đó sẽ tập trung chấn chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác đánh giá tác động môi trường đối với các dự án.

Phan Trang