Trong dự thảo thông tư mới công bố, NHNN cho phép TCTD biến nợ xấu thành vốn mà không chịu ràng buộc bởi một số quy định khắt khe về việc đầu tư góp vốn bình thường. Nhiều ý kiến cho rằng quy định này đã mở ra một trong những con đường để NH xử lý nợ xấu, nhưng trên thực tế việc xử lý nợ xấu bằng cách chuyển đổi thành vốn góp không dễ.

Mở lối giải cứu

Hiện nay, các quy định pháp luật hạn chế việc TCTD đầu tư ngoài ngành do lo ngại những rủi ro tiềm ẩn. Do vậy, thông tư này nếu ra đời nhằm cụ thể hóa các điều kiện và quy trình cụ thể về việc TCTD đầu tư, góp vốn vào các doanh nghiệp không thuộc ngành nghề liên quan. Điểm đáng lưu ý trong dự thảo này là việc NH hoán đổi nợ thành vốn góp, mua cổ phần tại doanh nghiệp không phải chịu một số quy định “khắt khe” nêu trong dự thảo thông tư. Dù vậy, việc hoán đổi nợ thành cổ phần vẫn phải đảm bảo các điều kiện: Chỉ được thực hiện đối với nợ thuộc nhóm 5 hoặc nợ đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro; tổng mức góp vốn, mua cổ phần dưới mọi hình thức không vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của NHTM, không vượt quá 60% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của công ty tài chính; tuân thủ tỷ lệ bảo đảm an toàn trước và sau khi hoán đổi nợ thành vốn góp, mua cổ phần, trừ trường hợp đặc biệt khi các TCTD đang trong quá trình triển khai tái cơ cấu theo chỉ đạo của Thống đốc NHNN.

Trên thế giới đã chứng kiến nhiều vụ cho phép và khuyến khích chuyển nợ thành vốn chủ sở hữu để vực dậy các doanh nghiệp đứng trên bờ vực phá sản hoạt động trở lại. Phương thức này là cách nhanh nhất để làm thay đổi tình hình của doanh nghiệp đang vướng nợ và có điều kiện tiếp cận khoản vay mới để tái đầu tư. Tuy nhiên, cơ hội phục hồi của các doanh nghiệp Việt Nam khi đã lâm vào tình trạng nợ xấu, kém hiệu quả là không nhiều, nên các NH tùy điều kiện mà cân nhắc.

TS. Trần Du Lịch

Trước đó, việc chuyển đổi nợ, góp vốn, mua cổ phần được quy định tại Nghị định 60/2015/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định 58/2012/NĐ-CP. Theo đó, từ ngày 1-9-2015, các doanh nghiệp được phép chào bán cổ phiếu để hoán đổi lấy khoản nợ của chủ nợ. Trước khi có các quy định pháp lý trên, thực tế cũng đã phát sinh nhu cầu này. Chẳng hạn vào cuối năm 2014, VietinBank đã xin ý kiến NHNN về việc tham gia làm cổ đông chiến lược khi cổ phần hóa các cảng thành viên trực thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) bằng toàn bộ giá trị khoản vay trị giá 5.000 tỷ đồng.

Từ trước đến nay, việc xử lý nợ xấu bằng chuyển thành vốn góp chỉ được thực hiện thông qua một bên thứ ba là Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC). Thông thường DATC sẽ mua lại khoản nợ của doanh nghiệp từ các NHTM để trở thành chủ nợ chính và chuyển khoản nợ đã mua thành vốn góp tại doanh nghiệp. Gần như đây là những doanh nghiệp thua lỗ và mất vốn chủ sở hữu. Do đó trong nhiều trường hợp chủ cũ của doanh nghiệp này bán cho DATC với giá tượng trưng. Trên cơ sở nguồn vốn của mình, DATC sẽ tham gia vào quá trình tái cấu trúc nhằm đưa doanh nghiệp trở lại hoạt động ổn định. Sau đó, DATC sẽ tiến hành thoái vốn tại doanh nghiệp.

Quan trọng vẫn là thu nợ

Dự thảo thông tư lần này cho phép TCTD chuyển đổi nợ thành vốn mà không phải chịu các quy định khắt khe như việc sử dụng “tiền tươi thóc thật” đi mua cổ phiếu, hay góp vốn thành lập doanh nghiệp. Tuy vậy các quy định chi tiết về việc chuyển đổi nợ thành vốn vẫn chưa đưa ra trong dự thảo thông tư. Nhiều người kỳ vọng quy định này sẽ tạo ra một lối mở giúp NH có thể đẩy nhanh việc xử lý nợ xấu thông qua việc chuyển đổi nợ xấu nhóm 5 thành vốn góp. Tuy nhiên, thực tế để đạt được mục tiêu cuối cùng là thu hồi số tiền nợ không hề dễ dàng.

Theo một chuyên gia tài chính, đã có rất nhiều NH trở thành cổ đông gián tiếp của doanh nghiệp vay nợ của mình thông qua công ty trung gian. Cách thức thực hiện thường là NH bán phần nợ xấu của mình cho một doanh nghiệp có liên quan. Công ty liên quan này sẽ dùng quyền chủ nợ để đàm phán với doanh nghiệp để biến nợ thành vốn góp. Mức giá mua cổ phần hay tỷ lệ chuyển đổi nợ tùy thuộc vào thỏa thuận giữa 2 bên và tiềm năng của doanh nghiệp. Sau khi thành cổ đông, NH gián tiếp tham gia vào quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp để vực dậy doanh nghiệp qua cơn khó khăn. Phương án này giúp NH tạm thoát khỏi nợ xấu, còn doanh nghiệp tạm thoát khỏi nguy cơ vỡ nợ, nhưng về dài hạn hiệu quả thực sự của phương án này thường không cao.

Bien no xau thanh von gop khong de - Anh 1

Ảnh minh họa.

Phần lớn những doanh nghiệp có nợ xấu đều làm ăn không hiệu quả. Điều này có thể xuất phát từ khả năng quản trị kém, ngành đang gặp khó khăn hoặc thiếu vốn. Trong trường hợp khó khăn chủ yếu do thiếu vốn, sự tham gia của NH có thể mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên các trường hợp còn lại thông thường tái cấu trúc để tìm lối thoát cho doanh nghiệp là không dễ dàng. Bên cạnh đó, NH lại là một “tay ngang” trong lĩnh vực doanh nghiệp hoạt động, nên rất khó trực tiếp đầu tư thời gian, cấp tín dụng và sắp xếp nhân sự vào các doanh nghiệp nợ xấu. Có ý kiến cho rằng các TCTD nếu thực hiện chuyển nợ vay thành vốn góp cổ phần, không thể tự mình thực hiện việc chèo lái doanh nghiệp đang trên bờ vực phá sản. Tất nhiên, có trường hợp nếu doanh nghiệp đang sở hữu tài sản như quỹ đất lớn và việc chuyển đổi nợ thành vốn kèm theo triển khai các dự án bất động sản, đó cũng là một cơ hội tốt đối với NH.

Trở lại với dự thảo thông tư của NHNN, điều kiện ràng buộc trong việc trực tiếp chuyển đổi nợ thành vốn của TCTD cho thấy tính khả thi trên bình diện rộng không cao. Chẳng hạn với điều kiện “chỉ được thực hiện với nợ nhóm 5”, trong khi đó thường doanh nghiệp bị rơi vào nợ nhóm 5 là doanh nghiệp có tình hình tài chính rất tệ. Theo quy định hiện nay doanh nghiệp này cũng không thể vay vốn tại các NH được nữa. Như vậy, dù có biến nợ thành vốn, việc tiến hành cải thiện tình hình tài chính cho doanh nghiệp bị nợ nhóm 5 mất rất nhiều thời gian và phải sử dụng khá nhiều kỹ thuật. Rõ ràng, biến nợ thành vốn góp và để thu hồi được vốn này là một chặng đường không dễ đối với các NH.

Xuân Anh