Sự kiện một huyện tại tỉnh Thanh Hóa vừa sa thải hơn 647 giáo viên, lại xin bổ sung 253 người cuối tháng 10 vừa qua cho thấy, còn quá nhiều bất cập đối với ngành sư phạm, từ khâu đào tạo cho đến tuyển dụng và sử dụng nhân lực.

Bat cap va lang phi - Anh 1

Cách tuyển dụng cứng nhắc

Câu chuyện ở Thanh Hóa rõ ràng cho chúng ta thấy năng lực yếu kém trong quy hoạch và sử dụng nguồn lực tại các trường phổ thông ở tỉnh này nói riêng và trong cả nước nói chung. Tuy vậy, khách quan mà nói, vấn đề này lại phát sinh từ một nguyên nhân sâu xa hơn, đó là mô hình tuyển dụng và sử dụng nhân lực cứng nhắc, tập trung, quan liêu và trì trệ của hệ thống.

Giáo viên làm việc tại các trường công hiện nay, khi được tuyển chính thức thì được xếp vào ngạch viên chức, với quy trình tuyển dụng, sử dụng và quản lý hoàn toàn phụ thuộc vào một bộ máy cồng kềnh với nhiều cơ quan quản lý nhà nước (từ các phòng, sở giáo dục đến sở nội vụ). Sự thiếu tự chủ này nhiều khi dẫn đến các tình huống éo le và nghịch lý. Hẳn chúng ta còn nhớ, cách đây hai năm có trường hợp giáo viên trẻ có bằng thạc sĩ nước ngoài, đạt rất nhiều thành tích trong luyện thi học sinh giỏi, nhà trường tha thiết muốn tuyển dụng nhưng vẫn trượt kỳ thi tuyển viên chức do Sở Nội vụ tổ chức.

Thực tế, theo quy định hiện hành, giáo viên trường công chỉ được tuyển dụng theo từng đợt cùng với các ngạch công chức/viên chức khác; thậm chí trong các môn thi tuyển, có những nội dung hoàn toàn không liên quan đến kỹ năng, chuyên môn của nghề sư phạm.

Mô hình đào tạo thiếu linh hoạt

Trong vòng 30 năm qua, hệ thống giáo dục đại học ở nước ta đã có khá nhiều biến động. Tuy vậy, cách thức tuyển sinh và đào tạo tại hơn 80 trường có đào tạo ngành sư phạm trong cả nước vẫn gần như không thay đổi. Các trường vẫn tuyển sinh đối tượng là học sinh tốt nghiệp THPT vào ngành sư phạm theo các chuyên ngành cụ thể (tương ứng với các môn học ở bậc phổ thông như: toán, lý, hóa, ngữ văn, ngoại ngữ, lịch sử, địa lý…). Sinh viên theo học ba hoặc bốn năm (tùy theo hệ cao đẳng hoặc đại học) và được miễn học phí toàn phần.

Về nội dung chuyên môn, sinh viên ngành sư phạm được học gần giống như sinh viên các ngành tương ứng tại các trường không phải sư phạm. Thí dụ, chương trình Toán tại ĐH Sư phạm Hà Nội không khác nhiều lắm so với chương trình Toán tại ĐH Khoa học tự nhiên - ĐH Quốc gia Hà Nội, chỉ là cộng thêm phần kiến thức, kỹ năng cho nghề giáo như kỹ năng sư phạm, tâm lý học (thường được học vào năm cuối)…

Mô hình này hoạt động ổn định trong thời bao cấp, khi Nhà nước vẫn tổ chức việc phân công, bố trí việc làm cho sinh viên sư phạm sau tốt nghiệp. Nhưng từ những năm 1990, cơ chế phân công này không còn nữa, sinh viên sư phạm ra trường phải tự tìm việc. Và từ đây, nghịch lý cũng như bất cập của các trường sư phạm trên khắp cả nước, vốn âm ỉ từ lâu, bắt đầu lộ rõ. Chỉ một số ít sinh viên có thể tìm được việc đúng ngành đào tạo. Số còn lại, nếu đủ năng lực có thể học lên thạc sĩ, tiến sĩ để trở thành giảng viên đại học. Nhưng số này chiếm tỷ lệ rất nhỏ, những người khác hoặc lâm vào cảnh thất nghiệp, hoặc cam chịu cảnh giáo viên hợp đồng (như trường hợp các giáo viên tại Thanh Hóa) với mức lương nhiều khi chỉ đủ tiền xăng xe và ăn trưa.

Việc chuyển ngành, nghề đối với những cử nhân sư phạm thất nghiệp cũng rất khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu do chương trình đào tạo cũ kỹ, gần như không có thay đổi đáng kể suốt hàng chục năm và chỉ tập trung vào những chuyên ngành cơ bản. Cách duy nhất để có thể chuyển ngành đối với các cử nhân sư phạm thất nghiệp này là thông qua việc học thêm văn bằng hai - tương đương với hai, ba năm tiếp tục đèn sách cùng với rất nhiều chi phí khác phải bỏ ra. Tất nhiên không phải ai cũng đủ khả năng và điều kiện để học thêm văn bằng khác; thực tế là, rất nhiều cử nhân sư phạm đành chọn cách “bỏ bằng đại học ra khỏi hồ sơ xin việc” để xin làm những công việc có yêu cầu trình độ thấp hơn.

Lãng phí nguồn lực xã hội

Khoảng 5 năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội nói chung, mô hình trường phổ thông tư thục chất lượng cao, phổ thông quốc tế ra đời và phát triển nhanh chóng tại các thành phố lớn như Hà Nội hay TP Hồ Chí Minh. Nghịch lý là, điều này cũng không đem lại nhiều cơ hội hơn cho các cử nhân sư phạm. Triết lý giáo dục khác nhau (giữa các trường sư phạm truyền thống và các trường phổ thông theo mô hình mới) dẫn đến một tình cảnh trớ trêu là bên thất nghiệp thì vẫn cứ thất nghiệp, bên thiếu nhân lực thì vẫn không tìm được người phù hợp.

Tình trạng cử nhân sư phạm thất nghiệp tràn lan không chỉ là sự lãng phí tài chính và trí tuệ, thời gian cho cá nhân người thất nghiệp, mà còn cho toàn xã hội. Như đã nói ở trên, Nhà nước hiện vẫn miễn học phí hoàn toàn cho sinh viên các trường sư phạm; tức là phần học phí được miễn đó phải được bù lại từ ngân sách nhà nước. Chính sách này thể hiện sự ưu tiên của Nhà nước cho lĩnh vực giáo dục cũng như tạo động lực cho sinh viên học ngành sư phạm. Tuy vậy, việc cử nhân sư phạm thất nghiệp và phải chuyển nghề ngày càng tăng đồng nghĩa với việc những đồng tiền thuế của nhân dân đang bị đổ đi một cách vô ích.

Đổi mới hướng nào?

Nhìn ra thế giới, có thể thấy, hầu như không còn quốc gia nào duy trì hình thức trường đại học, cao đẳng chuyên biệt dành cho đào tạo giảng viên. Mô hình đào tạo sư phạm thường chỉ thu hẹp vào một vài khoa/trung tâm thuộc một đại học lớn. Hơn nữa, việc thi tuyển cũng được thực hiện khắt khe với những phương thức nhằm bảo đảm chất lượng thật sự của nghề giáo.

Đã đến lúc các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý giáo dục, hiệu trưởng các trường sư phạm xem xét và nhìn lại cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động của chính mình theo hướng linh động hơn, hiệu quả hơn và thực tiễn hơn.

Nhìn vào kinh nghiệm thế giới, căn cứ trên tình hình thực tế ở nước ta, xin đưa ra hai giải pháp sau:

Thứ nhất, đối với trường sư phạm ở Việt Nam, cần chuyển toàn bộ các chương trình đào tạo sư phạm trở thành những chương trình cử nhân, cử nhân cao đẳng thông thường, thu học phí sinh viên như các trường công lập khác trong cả nước. Đồng thời, bộ phận đào tạo về nghiệp vụ sư phạm có thể được tách thành một khoa riêng - có nhiệm vụ tổ chức thi tuyển giáo viên cho đối tượng ứng viên đã có bằng đại học, cao đẳng (từ các khoa khác trong trường hoặc từ các trường khác trong cả nước) như cách làm của Pháp, Xin-ga-po hay Ấn Độ và một số nước khác. Cũng những khoa này sẽ làm luôn chức năng đào tạo chuyên sâu những ứng viên trúng tuyển về nghiệp vụ sư phạm trong khoảng một, hai năm sau khi trúng tuyển. Nhà nước, nếu muốn tiếp tục thể hiện chính sách ưu đãi có thể cấp học bổng hoặc tài trợ kinh phí đối với các ứng viên trúng tuyển.

Thứ hai, đối với hệ thống tuyển dụng và sử dụng giáo viên, cần trả lại cho các trường phổ thông quyền tự chủ tương tự như câu chuyện chúng ta đang bàn với các trường đại học hiện nay. Điều này cũng có nghĩa, chế độ biên chế đang được thực hiện, cũng nên được xem xét xóa bỏ. Tương tự như đề xuất của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đối với biên chế của công chức, chỉ có bỏ chế độ biên chế, chuyển sang chế độ hợp đồng lao động, và trao quyền tự chủ cho các trường trong việc tuyển dụng và sử dụng giáo viên thì mới tạo được động lực cho đổi mới, tạo sự năng động cho toàn bộ hệ thống sư phạm.

Tại Pháp, hằng năm có hai kỳ thi tuyển giáo viên trung học quan trọng là Capes (tuyển giáo viên cấp hai) và Aggregation (tuyển giáo viên cấp ba). Để có thể tham dự kỳ thi này, ứng viên ít nhất phải có bằng thạc sĩ. Căn cứ số lượng giáo viên về hưu trong năm tới cũng như số lượng vị trí công việc cho giáo viên được bổ sung, Bộ Giáo dục Pháp công bố số lượng vị trí cần tuyển trong năm đó tương ứng với từng ngành, nghề cụ thể. Ứng viên trúng tuyển sẽ còn phải trải qua một năm thử việc với những nội dung như: dự giờ, giảng thử và học thêm chuyên sâu về nghiệp vụ sư phạm.