TCK Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (SBS) vừa đưa ra báo cáo cập nhật về kết quả kinh doanh 9 tháng của các ngân hàng mẹ đang niêm yết trên hai sàn chứng khoán gồm VCB, EIB, STB, ACB, HBB, SHB và NVB.

Kết quả được cập nhật dựa trên các tiêu chí thu nhập lãi thuần; lãi thuần từ hoạt động dịch vụ; lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối; lãi thuần từ hoạt động dịch vụ; chi phí hoạt động; chi phí dự phòng; tăng trưởng lợi nhuận sau thuế; tăng trưởng tín dụng khách hàng; tăng trưởng huy động từ dân cư và nợ xấu.

Thu nhập lãi thuần tăng cao so với cùng kỳ năm ngoái ở hầu hết các ngân hàng mẹ đã công bố lợi nhuận. Nguyên nhân là do:

(i) Do mặt bằng lãi suất cho vay vẫn đứng ở mức cao và mặc dù SBV đã định hướng giảm lãi suất xuống còn 17-19% nhưng điều này dường như không khả thi

(ii) Đa số các ngân hàng trong danh sách này vẫn có mức tăng trưởng tín dụng cao hơn hoặc bằng mức trung bình ngành. Do các ngân hàng bị hạn chế phải hạch toán chi phí lãi theo mức lãi suất huy động trần 14%, làm cho phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động lớn, dẫn đến thu nhập lãi thuần tăng mạnh.

Tuy nhiên chúng tôi cho rằng tình hình không khả quan như con số thể hiện. Phần chi phí huy động vượt trần sẽ được hạch toán vào các khoản khác trong báo cáo tài chính, làm cho tăng trưởng lợi nhuận sau thuế không tương đồng với mức tăng trưởng thu nhập lãi thuần.

Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ

Lãi từ hoạt động dịch vụ của các ngân hàng vẫn tăng trưởng lành mạnh, trong đó EIB tăng trưởng mạnh nhất với 132%. Theo chúng tôi được biết, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ của EIB tăng như thế một phần là do năm nay ngân hàng bắt đầu tiến hành thu phí đối với những dịch vụ mà năm 2010 khách hàng được sử dụng miễn phí, ví dụ như Internet banking, SMS banking, sản phẩm cho khách VIP, sản phẩm tiện ích…

Lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối

Với lợi thế của ngân hàng lớn, hoạt động kinh doanh ngoại hối của CTG và VCB tăng trưởng mạnh, lần lượt là 295% và 147% so với cùng kỳ năm ngoái. Còn lại các ngân hàng khác như EIB, STB, ACB, HBB và NVB đều báo cáo lỗ.

Thực tế trong quý III vừa qua, tỷ giá khá ổn định, thị trường tự do hoạt động im ắng nên các ngân hàng có thể mua USD từ trong dân cư và doanh nghiệp với giá niêm yết, nên khó có thể lỗ nặng trong hoạt động kinh doanh ngoại hối. Chúng tôi cho rằng, không hẳn tất cả phần lỗ này đều đến từ kinh doanh ngoại hối mà một phần do huy động lãi suất vượt trần không thể hạch toán vào chi phí lãi, các ngân hàng đành phải chuyển phần chi phí vượt trần này sang các khoản chi phí khác, trong đó có chi phí cho hoạt động kinh doanh ngoại hối.

Riêng đối với CTG và VCB, chi phí huy động lãi suất vượt trần có thể được chuyển vào phần (i) chi phí khác đối với VCB, dẫn đến lỗ từ các hoạt động khác lên đến 1,200 tỷ so với lời 250 tỷ cùng kỳ năm ngoái; (ii) chi phí từ hoạt động dịch vụ đối với CTG.

Chi phí hoạt động

Chi phí hoạt động tăng cao từ 50%-80%, trong đó cao nhất là SHB (59%) và EIB (70%). 2 ngân hàng có khả năng kiểm soát chi phí tốt nhất lần lượt là VCB (18%) và ACB (37%). Tỷ lệ chi phí hoạt động/ tổng lợi nhuận hoạt động của VCB và EIB được cải thiện, thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái và tăng mạnh ở các ngân hàng nhỏ như HBB, SHB và NVB.

Theo chúng tôi, chi phí hoạt động tăng mạnh ở các ngân hàng một phần là do hạch toán phần chi phí lãi suất huy động vượt trần vào khoản mục này.

Chi phí dự phòng

Đặc điểm chung giữa các ngân hàng là chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh, thể hiện chất lượng tài sản ngày càng giảm sút.

Tốc độ tăng trưởng dự phòng của các ngân hàng lớn (EIB: 300%, VCB: 213%, CTG: 104% và STB: 149%) tăng cao hơn nhiều so với của các ngân hàng nhỏ (HBB: -30%, SHB: -55%, NVB: -18%).

Tăng trưởng lợi nhuận sau thuế

Nhờ vào tăng trưởng thu nhập lãi thuần cao, nên dù cho chi phí hoạt động và chi phí dự phòng rủi ro tăng cao, cũng như một số ngân hàng bị lỗ trong kinh doanh ngoại hối và hoạt động đầu tư, đa số các ngân hàng vẫn tăng trưởng lợi nhuận sau thế.

Một số ngân hàng có tỷ lệ tăng trưởng cao như CTG (49%), EIB (65%) hay SHB (47%). Trường hợp các biệt là HBB, do thu nhập lãi thuần chỉ tăng được 16%, nhưng lỗ ở các hoạt động khác và chi phí hoạt động tăng quá cao, dẫn đến lợi nhuận sau thuế thấp hơn cùng kỳ năm trước.

Tăng trưởng tín dụng khách hàng

Các ngân hàng trong danh sách đa số đều tăng trưởng tín dụng tốt, tương đương hoặc cao hơn mức 8% của ngành. Đáng chú ý là tăng trưởng tín dụng của STB và HBB rất thấp, chỉ đạt lần lượt là 3% và 1%. 2 ngân hàng không còn dư địa tín dụng nhiều cho đến cuối năm là NVB (20%) và SHB (17%)

Tăng trưởng vốn huy động từ dân cư

Sau khi SBV nghiêm khắc thực hiện trần lãi suất 14%/năm đối với lãi suất huy động từ dân cư, dòng tiền đang dần quay trở lại các ngân hàng lớn. Tăng trưởng huy động 6 tháng đầu năm của CTG -9% thì cuối quý 3 đạt 9%. Tương tự như VCB, tăng trưởng huy động 6 tháng đầu năm -14% thì cuối quý 3 cải thiện được ở mức 0%. Đối với EIB, STB, SHB và NVB, tăng trưởng vốn huy động quý 3 giảm so với quý 2.

Nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu (NPL) đều tăng ở hầu hết các ngân hàng. Đáng chú ý là tỷ lệ nợ xấu của VCB vượt mức cho phép 3%, tăng từ 2.8% cuối năm 2010 lên 3.9% 9M2011. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng do VCB nghiêm chỉnh phân loại nợ xấu và bắt đầu phân loại nợ không chỉ theo hình thức định lượng mà cả hình thức định tính nên tỷ lệ này tương đối là đáng tin cậy.

Theo báo cáo tài chính riêng lẻ của các ngân hàng niêm yết, STB là ngân hàng kiểm soát NPL ở mức thấp & tốt nhất, 0.6% 9M2011. Nợ nhóm 2/ tổng dư nợ cũng tăng so với cuối năm 2010. Sau 90 ngày nếu không giải quyết được các khoản nợ này, nợ nhóm 2 sẽ chuyển vào nhóm nợ xấu, làm trích lập dự phòng tăng cao và ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng.

SBS, Vietstock