Ngày 20-9, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận đã ký phê duyệt đề án “Xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục ĐH và TCCN giai đoạn 2011 – 2020”. Sẽ không có gì để băn khoăn nếu đề án này không tiêu tốn gần 99 tỉ đồng.

Nhiều người không khỏi ngỡ ngàng vì trong 5 mục tiêu đề ra của đề án gần trăm tỉ đồng này có nhiều nội dung rất giống với chức năng và nhiệm vụ hoạt động của Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng – một cơ quan của Bộ GD-ĐT. Các chức năng và nhiệm vụ trên cũng đã gần như có đủ trong một văn bản pháp quy là Nghị định số 85/2003/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành cách đây... 7 năm. Chẳng hạn, mục tiêu 1 được vạch ra trong đề án: “Củng cố và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục ĐH và TCCN, tạo môi trường và hành lang pháp lý cho sự phát triển ổn định hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục” rõ ràng là không khác gì mấy so với quy định về nhiệm vụ của Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng được giao, là: “Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng và trình bộ trưởng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn về khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục; hướng dẫn và theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các văn bản về khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục sau khi được ban hành”. Nhiều mục tiêu khác của đề án cũng có nội dung tương tự các quy định số 3, 4, 9 và 11 trong chức năng và nhiệm vụ của Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng. Thử hỏi, nếu đặt các mục tiêu như vậy thì khả năng đạt được của đề án đến năm 2020 là gì? Và, quan trọng hơn là nếu căn cứ vào các mục tiêu đó thì giáo dục ĐH và TCCN của chúng ta đến năm 2020 sẽ ở đâu trong bản đồ chung của kiểm định giáo dục thế giới? Vì vậy có thể nói, tính mới trong đề án là không có nhiều. Không có gì mới mẻ lắm nhưng khoản tài chính dự kiến để triển khai đề án sẽ “ngốn” gần 99 tỉ đồng. Đáng chú ý nhất là khoản 1,6 tỉ đồng chi cho hoạt động tăng cường hợp tác quốc tế với các nước trong khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực kiểm định chất lượng giáo dục. Khoản tiền này không nhỏ nhưng nếu chỉ với chừng ấy thì khó để hy vọng có bao nhiêu trường ĐH, TCCN của Việt Nam sẽ cải thiện được vị thế xếp hạng của INQAAHE (Mạng lưới quốc tế các tổ chức bảo đảm chất lượng giáo dục ĐH). Tuy nhiên, nếu dành đến chừng này để tham gia các hội thảo, hội nghị hoặc đóng phí duy trì thành viên thì cần xem xét lại tính thiết thực của đề án. Chúng ta đang đứng trước những thách thức thực sự của khủng hoảng giáo dục ĐH với hàng loạt vấn đề nóng bỏng như phương pháp học tập đọc – chép, giáo trình “đạo”, đội ngũ giảng viên vừa yếu và thiếu, chất lượng đào tạo trong nước và liên kết bị thả nổi, trường thiếu chuẩn, chương trình đào tạo “kín”... Bởi vậy, rất cần xây dựng và phát triển ngay một hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đúng nghĩa. Nếu chỉ đặt ra những mục tiêu chung chung thì không khéo sẽ tiêu tốn rất nhiều tiền của mà kết quả thì chưa biết ra sao.