Thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, các đại biểu đã mổ xẻ đến những nút thắt phát triển, chỉ ra những giới hạn trong nợ công, những điểm còn mâu thuẫn trong theo đuổi mục tiêu tăng trưởng bền vững. Qua đó, Quốc hội yêu cầu Chính phủ phải bảo đảm nguồn lực xã hội được phân bổ hiệu quả, khoảng cách phát triển được thu hẹp.

Ban giai phap thu hep khoang cach phat trien - Anh 1

Cải thiện an sinh xã hội tại khu vực khó khăn

Trong phiên thảo luận đánh giá lại tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đại biểu Cao Thị Xuân - Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc đã chỉ rõ những vùng khó khăn vẫn còn nhiều người dân chưa được bảo đảm ở mức cơ bản về an sinh xã hội. Bà Xuân cho biết: Cả nước có hơn 3 triệu hộ với hơn 13 triệu đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó 90% sống ở nông thôn. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc hơn 23% (cao gấp hơn ba lần tỷ lệ chung của cả nước). Ở một số vùng, tỷ lệ hộ nghèo chiếm đa số, như: La Hủ 84%, Mảng 80%, Chứt 75%, Ơ Đu 63%... Thu nhập bình quân/đầu người dân tộc chỉ khoảng gần 1,2 triệu đồng (bằng 40% bình quân cả nước).

Cho tới nay, vẫn còn hơn 15% số hộ đang ở nhà tạm, hơn 25% chưa được tiếp cận với nguồn nước hợp vệ sinh… “Cử tri đề nghị Quốc hội xem xét để có chính sách phù hợp, không để khoảng cách giàu nghèo giữa các dân tộc, khoảng cách phát triển giữa các khu vực ngày càng doãng ra, những vấn đề xã hội, an ninh trật tự… ngày càng phức tạp, ngáng trở mục tiêu phát triển bền vững” - Đại biểu Cao Thị Xuân nhấn mạnh, và đề nghị: “Quốc hội, Chính phủ bổ sung các mục riêng về khu vực đồng bào dân tộc thiểu số vào các kế hoạch đầu tư, tái cơ cấu kinh tế, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt là phải dành nguồn lực đầu tư xứng đáng để giải quyết căn bản những tồn tại về giáo dục, văn hóa, thể chất, năng lực sản xuất cho đồng bào dân tộc. Chỉ khi có một nền tảng văn hóa - xã hội tốt, đồng bào mới cải thiện được đời sống, kinh tế”.

Trăn trở nợ công, bố trí vốn đầu tư

Tốc độ tăng nợ công trong 5 năm qua vào khoảng 18,4%, gấp ba lần tăng trưởng kinh tế. Ông Đinh Tiến Dũng, Bộ trưởng Tài chính đã đưa ra số liệu cho thấy, tỷ lệ tương đối về nợ công đã tăng từ mức 36,5% GDP năm 2001 lên hơn gấp rưỡi - 62,2% GDP vào năm 2015. Còn xét về quy mô, số liệu năm 2015 đạt 2,68 triệu tỷ đồng, gấp 2,3 lần năm 2010 và 14,8 lần năm 2001. Chính phủ đã thẳng thắn mổ xẻ nguyên nhân của nợ công là do tăng trưởng kinh tế những năm qua không đạt kế hoạch đề ra, dẫn đến tỷ số giữa nợ và GDP có xu hướng tăng. Tiếp nữa là tái cơ cấu đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng không đạt yêu cầu, trong khi ngân sách giảm thu vì giá dầu và để phục vụ mục tiêu thúc đẩy sản xuất. Và một nguyên nhân quan trọng nữa, việc chấp hành các quy định về đầu tư công một số nơi chưa nghiêm, quyết định đầu tư nhưng không tính toán khả năng vốn, chất lượng chuẩn bị dự án còn thấp, chưa khắc phục được tình trạng dự án chuẩn bị sơ sài, phê duyệt hình thức, phải bổ sung điều chỉnh vốn nhiều lần, bố trí vốn dàn trải, kéo dài thời gian làm thất thoát, giảm hiệu quả đầu tư.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Phương (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Bình) nêu yêu cầu: “Phần rất quan trọng là thực tế có bao nhiêu dự án đầu tư mang lại hiệu quả, bao nhiêu dự án thua lỗ, nguyên nhân, giải pháp quản lý. Có như vậy mới xác định được trách nhiệm tổ chức, cá nhân để xử lý, làm bài học, hy vọng ngăn chặn được tình trạng thất thoát vốn đầu tư hiện nay”.

Liên quan đến kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 được Chính phủ trình Quốc hội, đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Kiên Giang) cho rằng, việc phân bổ theo kế hoạch này chưa bám sát quan điểm, tiêu chí phân bổ vốn đầu tư đã nêu trong báo cáo. “Đồng bằng sông Cửu Long - khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, nơi mà dự báo đến năm 2020 có thể hai phần ba diện tích ngập sâu trong nước biển, song, trong 5 năm tới, kế hoạch này chỉ đầu tư một số cống, đập ngăn mặn. Các dự án, công trình của vùng này nếu không được đầu tư đồng bộ, không quy hoạch lại sản xuất, khó có thể giữ được sự trù phú của vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia”, đại biểu Bé dẫn chứng.

Đề án tái cơ cấu yếu ở khâu triển khai

Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 với nguồn lực thực hiện dự kiến khoảng 10,57 triệu tỷ đồng, nhằm thực hiện mục tiêu tái cơ cấu mới, gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu. Điều không ít đại biểu QH băn khoăn và nhiều chuyên gia kinh tế lên tiếng là nguồn lực để có được con số nói trên lấy từ đâu, và quan trọng là đề án được trình lần này thể hiện sự thay đổi tư duy như thế nào sau khi bốn năm thực hiện tái cơ cấu chưa được như mục tiêu đặt ra. Chính phủ sẽ làm gì để hiện thực hóa mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đại biểu Phùng Văn Hùng (Đoàn đại biểu Quốc hội Cao Bằng) nhấn mạnh: “Qua giám sát chúng tôi có cảm nhận 5 năm rồi nhưng tái cơ cấu vẫn chưa về tới địa phương”.

Trong khi đó, đại biểu Phạm Phú Quốc (Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hồ Chí Minh) nêu vấn đề, mục tiêu của tái cơ cấu phải là tạo cho nền kinh tế thế chủ động, độc lập, không phụ thuộc vào nền kinh tế lớn khác. Ngoài hai trụ cột đẩy mạnh quản lý nhà nước và tái cơ cấu ngành kinh tế được đề cập trong đề án, đại biểu đề nghị bổ sung thêm trụ cột xác lập cộng đồng doanh nghiệp là chủ lực trong tái cơ cấu kinh tế.

Trên cơ sở những phân tích có lý lẽ, nhiều đại biểu cho rằng, điểm yếu nhất của tái cơ cấu giai đoạn 2010 - 2015 là ở khâu triển khai. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng là xem xét lại danh mục các đề án, dự án, nhiệm vụ để tập trung ưu tiên hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng công vụ, xây dựng Chính phủ phục vụ, nhất là khi đã coi khu vực doanh nghiệp là trung tâm của tái cơ cấu.